Trang chủ » Bầu bạn góp cổ phần

Từ Dương Hương Ly đến Bùi Minh Quốc

Lê Huy Mậu
Thứ bẩy ngày 9 tháng 2 năm 2013 2:43 PM

 

Tại đại hội Hội Văn học- Nghệ thuật tỉnh Lâm đồng lần thứ VII, là đại biểu khách mời nhưng tôi không ngồi hàng ghế đại biểu mà ngồi lẫn trong hàng ghế dành cho hội viên. Tôi đến có hơi muộn nên tiện đâu thì ngồi đấy. Chưa kịp quan sát xung quanh thì tôi nghe phía sau lưng có tiếng chào nho nhỏ:- Chào anh L H M. Tôi là Trung An đây! Quả thực đã lâu tôi không gặp anh Trung An, giá anh không xưng tên ngay chắc tôi không nhận ra. Đang họp, anh Trung An chỉ ghé tai nói nhỏ:- Xong đây, anh có tới thăm anh Bùi Minh Quốc tôi đưa đi! Tôi cám ơn anh, hẹn đại hội xong, tôi và anh sẽ đến thăm anh Quốc.
Lên Đà lạt tôi thường ghé thăm anh Quốc. Thực ra, nói chuyện với anh Quốc tôi cũng không biết nói chuyện gì. Nhưng không ghé thăm anh cứ cảm thấy như mình hèn hèn sao ấy. Không  phải ngại mà vì chuyện của anh Quốc nghe rất mệt . Tôi không thấy anh Quốc có gì sai, tôi chỉ thấy anh Quốc thế nào ấy! Thử hỏi, cả ngàn nhà văn ai không yêu nước, ai không căm thù bọn tham nhũng, bọn cơ hội dưới mọi hình thức.? Nhưng, cũng tùy theo hoàn cảnh từng người, cũng tùy theo quan niệm từng người mà có nhiều cách ứng xử khác nhau. Tuy cũng có những phần tử cơ hội, nhưng loại ra, không tính, còn thì phần đông cũng trăn trở lắm chứ, đau xót lắm chứ. Nói ra điều này tôi sợ anh Quốc mắng, nhưng tôi thầm nghĩ: “Sao anh cứ phải ôm rơm chi cho nhặm bụng!”
Anh Quốc nổi tiếng với bài thơ Lên miền tây từ ngày anh còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông. Không ai trong lứa chúng tôi không thuộc bài thơ Lên miền tây của anh. Bây giờ nghĩ lại thì thấy thơ anh Quốc thời ấy cũng giống thơ Tố Hữu, cũng hừng hực khí thế cách mạng những năm sáu mươi của thế kỷ trước. Vào chiến trường anh lấy  bút danh là Dương Hương Ly. Không phải ai cũng biết Dương Hương Ly là Bùi Minh Quốc. Năm 1986, sau chuyến anh Quốc ghé thăm nhà thơ Xuân Sách vừa chuyển từ Đồng nai xuống Vũng tàu  để lo việc thành lập Hội Văn Nghệ Đặc khu Vũng tàu- Côn Đảo, tôi đưa anh Bùi Minh Quốc lên Sài gòn, ở nhà đứa cháu họ làm việc trong nhà máy thủy tinh Khánh hội. Nhà máy tổ chức cho tôi và anh Quốc đi tham quan, buổi chiều họ mở tiệc chiêu đãi. Khi tôi giới thiệu anh Bùi Minh Quốc chính là nhà thơ Dương Hương Ly thì nhiều người hết sức sửng sốt. Thế rồi anh Quốc trở thành tâm điểm chúc tụng của mọi người. Hồi ấy bộ khung tiếp quản nhà máy thủy tinh Khánh hội toàn là cán bộ miền Bắc và bộ đội chuyển ngành. Nhiều bài thơ của Dương Hương Ly được họ thuộc lòng. Họ đọc thơ anh Quốc hết bài này đến bài khác. Người này quên thì người bên canh nhắc, họ thuộc thơ anh Quốc nhiều hơn cả tôi. Tôi thầm ghen với vinh quang của anh. Tất nhiên, anh xứng đáng được tôn vinh trước những gì mà anh đã đóng góp cho cách mạng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.. 
Khi tôi gặp anh Quốc lần đầu, tôi thấy anh Quốc điềm đạm, ít nói. Anh và nhà thơ Xuân Sách gật gù với nhau có vẻ tâm đắc lắm. Hai ông như quên có tôi bên cạnh. Sau này tôi mới biết, chính thời gian đó anh Quốc có lời mời của tỉnh Lâm đồng về thành lập Hội ở Lâm đồng. Anh Quốc bảo, anh cũng thích Vũng tàu, nhưng Vũng tàu mời Xuân Sách rồi. Tôi cứ tiếc mãi, bấy giờ anh Hưng Nam Ban Tuyên giáo có bảo tôi tìm người để thành lập nhà xuất bản. Giá có anh Quốc thì có khi Vũng tàu cũng có nhà xuất bản rồi.  Thời kỳ anh Quốc làm chủ tịch Hội Văn nghệ Lâm đồng tôi không được rõ lắm. Có nhiều sự cố đến với anh. Cái tên Bùi Minh Quốc thường được nhắc đến trong các cuộc giao ban ngành Tuyên Giáo.
Anh Quốc có bài thơ viết về sư đoàn Sao vàng – là sư  đoàn chủ lực tham gia giải phóng Bà rịa- Long khánh. Nguyển Đình Thống- trưởng phòng lịch sử đảng Ban Tuyên Giáo in bài thơ “ Ơi bãi bờ tìm kiếm suốt đời ta” của Bùi Minh Quốc vào tập san Lịch sử đảng. Thống nhờ tôi chuyển giúp báo biếu và nhuận bút cho anh Quốc.Tôi hỏi địa chỉ chị Thục vợ anh rồi gửi theo địa chỉ của chị Thục. Bấy giờ anh Quốc đang bị quản chế, không đâu dám in thơ của anh cả. Nhận được báo biếu và nhuận bút anh cảm động lắm. Vì việc này mà khi hết bị quản chế, anh có làm bài thơ tri ân bạn bè và gửi cho tôi một bản. Hôm anh Quốc và anh Hà Sĩ Phu xuống Vũng tàu, Trần Đức Tiến điện bảo tôi ra khách sạn Nghinh Phong, lại dặn đi một mình ông thôi nhé. Tôi không ngờ được gặp anh Hà sỹ Phu tại Vũng tàu. Trông anh Hà Sĩ Phu nhỏ thó, trắng trẻo, gương mặt toát lên vẻ tinh anh . Con người ăn nói nhỏ nhẹ này là người viết ra những điều ghê gớm đấy ư?. Bấy giờ tôi làm chánh văn phòng Ban Tuyên Giáo, ông trưởng ban giao tôi cất giữ một số bài viết đóng dấu tuyệt mật, trong đó có bài của Hà Sĩ Phu. . Tôi đọc bài anh Hà Sỹ Phu có đúng một lần rồi cất vào tủ, khóa kỹ! Trần Dức Tiến mời cơm trưa. Anh em chuyện trò vui vẻ. Tuyệt không nhắc gì đến bài viết của anh Hà Sỹ Phu cả. Anh Quốc và anh Hà Sỹ Phu đến Vũng tàu, gặp gỡ những ai công an đều biết cả. Tôi không sợ bị mang tiếng, bị  phiền hà mà chỉ sợ trong cử chỉ, lời nói của mình khi tiếp xúc có gì không phải làm các anh ấy buồn. Bấy giờ, tôi đã nghĩ được rằng, chẳng có gì quan trọng cả. Các anh ấy cũng chỉ viết ra những suy nghĩ của mình. Khả năng để phổ biến rất hạn chế. Ngay trong Ban Tuyên Giáo của tôi, cũng chỉ tôi và trưởng ban đã đọc qua mà thôi. Tư duy chính trị trước đổi mới mà đưa ra những ý kiến như của anh Hà Sỹ Phu là hết sức táo bạo. Nó như một thách thức đối với ngành Tuyên Giáo. Trong đó có tôi.
 Trước ngày mất chừng một năm gì đó, nhà thơ Xuân Sách đi dự trại sáng tác tại Đà lạt, Ông khởi viết tập hồi ký xung  quanh cuốn “Chân dung nhà văn” đang có nhiều dư luận khen chê khác nhau trong giới nhà văn. Tôi có chiếc xe máy do cậu em làm công an Lâm đồng đưa cho để đi lại trong thời gian dự trại. Anh Sách bảo chở anh ấy đến nhà anh Quốc. Biết anh Sách lên, anh Hà Sỹ Phu mời sang nhà chơi, vì anh bị thấp khớp năng không đi lại được.  Cái quán nước của anh Hà Sỹ Phu chỉ  khoảng mười lăm, hai mươi mét vuông mặt đường đường Bùi Thị Xuân. Không có bàn ghế hẳn hoi, chỉ có cái ghế băng cho khoảng hai người ngồi. Tôi nhường  anh Quốc và anh Sách, còn mình kiếm  cái gì đó ngồi tạm.  Được một lúc thì anh Sách bảo tôi ra ngồi cái băng. Còn anh thì ngồi chỗ của tôi. Sau này tôi mới biết, quán anh Hà Sỹ Phu bé tẹo, cửa lại mở rộng. Tôi ngầm hiểu ra lý do anh Sách đổi chỗ.
 Nhiều lần anh Quốc biết tôi né tránh chuyện thế sự của anh, nhưng rồi, dù có lan man chuyện gì một lúc là anh lái về chuyện thế sự. Về điều này thì tôi thấy nhà thơ Xuân Sách cũng vậy. Giữa đám đông ông chỉ rỉ rả nói chuyện với người ngồi cạnh mà thôi. Có vẻ như bí mật lắm. Dù là chuyện gì, cuối cùng cũng là chuyện thế sự. Gặp được người nghe mình chăm chú, ông có thể ngồi cả buổi. Anh Quốc cũng vậy. Chuyện của anh chỉ xoay quanh chuyện thế sự. Nghe rất mệt. Hôm Chi hội nhà văn Miền Đông  họp ở Vũng tàu, ăn cơm chiều xong, mấy nhà văn trẻ rỉ tai gật gù rủ nhau đi nhậu tiếp. Anh Quốc đang say chuyện nhưng rồi mọi người lần lượt bỏ đi hết. Tôi mãi mới rút lui được. Nhưng ra đến cửa thấy mình không phải với anh nên quay lại mua một chai rượu, nửa tây nửa ta, bảo anh đem về phòng tối anh em mình uống. Không biết anh Quốc có để ý thấy không, nhưng điều này cũng được lặp lại trong một vài lần gặp gỡ khác nữa….Cái gì làm các nhà văn đàn em ngại ngồi uống với anh Quốc thế? Vì sao anh Quốc lại luôn tự làm khổ mình như vậy? Câu hỏi ấy cứ day trở trong tôi mãi…


 Theo từ điển bách khoa Wikypedia : Nhà thơ Bùi Minh Quốc  - Còn có bút hiệu là Dương Hương Ly - sinh ngày 3/10/1940 tại Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây. - Nổi tiếng từ thời trung học với bài thơ "Lên Miền Tây". Bài thơ này được đưa vào chương trình giáo khoa thời ấy.  Vợ là nhà văn Dương Thị Xuân Quý.  Ông và vợ đã gửi con gái đầu lòng mới 16 tháng lại để vào Nam chiến đấu.  Vợ ông hy sinh tại chiến trường miền Nam.  Sau 30/4/1975, anh Quốc công tác tại Quảng Nam- Đà Nẵng, giữ chức phó chủ tịch Hội Văn Nghệ tỉnh và Tổng biên tập tạp chí Đất Quảng.  Năm 1987, chuyển vào công tác tại Đà Lạt, làm chủ tịch Hội Văn Nghệ tỉnh Lâm Đồng và Tổng biên tập tạp chí Langbian.  Năm 1988, cùng nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự thực hiện một chuyến đi xuyên Việt từ Đà Lạt, qua các tỉnh miền Trung, ra Hà Nội, nhằm vận động trí thức văn nghệ sĩ đấu tranh đòi tự do dân chủ. Sau vụ này cả hai ông đều bị khai trừ khỏi đảng.  Từ năm 1997 Bùi Minh Quốc và hai người khác tại Đà Lạt là Tiêu Dao Bảo Cự và Hà Sĩ Phu bị quản chế tại gia…
 Từ Bùi Minh Quốc đến Dương Hương Ly-  Rồi từ Dương Hương Ly  trở lại Bùi Minh Quốc. Ba thời kỳ lịch sử khác nhau nhưng luôn nhất quán, là một. Trong tự truyện của mình, anh kể: -“ Từ 1956 đến 1959, vào tuổi 16 - 19, cái tuổi tuyệt vời nhất của cuộc đời. Chính tại đây, một hôm nào đó, dưới bóng các cây cổ thụ trùm toả khắp sân trường, tôi đã có bài thơ “Thật kỳ diệu khi mười tám tuổi” gửi đăng báo Tiền Phong, nay chỉ còn nhớ mấy câu này :
Thật kỳ diệu khi mười tám tuổi
Cháu Bác Hồ, đồng chí của Lê-nin…
Đối với cái tuổi 18 của tôi, và chắc của cả thế hệ tôi, làm cháu Bác Hồ, làm đồng chí của Lê-nin nghĩa là phải sống có lý tưởng, là hiến trọn đời mình cho lý tưởng cao cả : giải phóng dân tộc và giải phóng con người; đất nước Việt Nam phải độc lập thống nhất và trên đất nước độc lập ấy mỗi con người phải được tự do.”
Anh Quốc đã sống đúng như vậy. Cũng theo tự truyện, nhân vật Paven Coocsaghin là hình mẫu lý tưởng của anh thời trẻ. Vào chiến trường, cuộc sống chiến đấu gian khổ không làm anh phai nhạt lý tưởng, trái lại, anh còn viết thư cho vợ, khuyến khích, động viên vợ vào chiến trường để có thực tế sáng tác. Nhà thơ Lê Xuân Đố trước cùng công tác với Dương thị Xuân Quý ở Đài tiếng nói Việt nam kể lại, nhận được thư của anh Bùi Minh Quốc, Dương Thị Xuân Quý nhất quyết xung phong vào chiến trường cùng chồng, đứa con gái mới 16 tháng tuổi của họ gửi về cho bà ngoại trông. Khi kể lại chuyện này với chúng tôi, anh Đố bức xúc lắm, cổ anh nghẹn lại, nước mắt trào ra  giàn giụa, anh nói trong nước mắt, trong uất nghẹn, là anh Quốc thần kinh, dở hơi, tàn nhẫn, mù quáng và vv...  Tôi và Tùng Bách ngồi im lặng, tôn trọng cái cảm xúc nghẹn ngào của Lê Xuân Đố, không bình luận gì thêm. Cho đến nhiều năm sau ngày vợ mất, chưa có lúc nào anh Quốc có ý nghĩ là lẽ ra không nên khuyến khích vợ vào chiến trường cả. Bài thơ về hạnh phúc của anh là một bài ca bi tráng về sự hy sinh cao cả và đẹp đẽ vì lý tưởng của người nghệ sỹ, chiến sỹ trong chiến tranh cách mạng. Xét theo một nghĩa nào đó, đúng là anh Quốc không bình thường. Anh đúng là Paven, là Lôi Phong Việt nam. Anh Xuân Sách bảo, có bốn nhạc sỹ phổ thơ Bùi Minh Quốc đạt giải thưởng Hồ Chí Minh, trong khi anh Quốc đang khốn khổ vì đi đâu vẫn có người theo dõi. Thật trớ trêu làm sao!
 Wikypedia ghi: “[Trong kháng chiến chống Mỹ, Bùi Minh Quốc nổi tiếng với tập thơ "Mảnh đất nuôi ta thành dũng sĩ" khi ông công tác tại Ban Văn nghệ Khu V. Năm 1968, vợ chồng Bùi Minh Quốc và Dương Thị Xuân Quý có tập thơ - truyện "Chỗ Đứng" được Nhà xuất bản Hội Nhà Văn in, vốn là tuyển tập các bài thơ và truyện ngắn của hai người đã được đăng rải rác trên các báo. Bài thơ nổi tiếng nhất của Bùi Minh Quốc chính là "Bài thơ về hạnh phúc" mà ông viết năm 1969 để tưởng nhớ người bạn đời Xuân Quý đã hy sinh trong chiến tranh. Thơ của Bùi Minh Quốc thường viết về "người mẹ già" Việt Nam nhiều năm cuốc đất đào hầm nuôi giấu cán bộ, như các bài "Đất quê ta mênh mông", "Mẹ ngẩn ngơ đi…", "Mẹ đi chọn mặt gửi vàng", "Không, mẹ ơi", "Một thoáng phố phường".]”
Anh Quốc đã từng tin rằng, là Đảng viên thì không có ai xấu. Ai cũng một lòng một dạ vì lý tưởng cộng sản cao đẹp. Tôi nghe nói, sau giải phóng trở lại Hà nội, khi nghe Nguyễn Đình Thi nói về những biểu hiện tiêu cực, quan liêu cửa quyền của một số cán bộ có chức, có quyền, Bùi Minh Quốc trố mắt ngạc nhiên, không tin! Khi anh Quốc và anh Tiêu Dao Bảo Cự đi vận động Văn Nghệ Sỹ ký tên đòi tự do dân chủ, trong anh Quốc không có ý nghĩ thay Đảng hay đa đảng, anh chỉ muốn đấu tranh chống mọi tiêu cực trong đảng, để đảng trở lại là đảng cầm quyền trong sạch vững mạnh. Anh Quốc tin vào những lý lẽ đấu tranh của mình đến nỗi, bao nhiêu hệ kụy đời thường anh bất chấp hết. Mất đảng, không lương, bị quản chế, bị cô lập ... anh cũng không từ bỏ cuộc đấu tranh mà anh tự mình phát động, tự mình làm lực lượng vật chất. Trước đây, khi nhà thơ Xuân Sách còn sống, anh thường gửi bài cho anh Sách qua địa chỉ của tôi. Tôi đã đọc qua những bản kiến nghị mà anh gửi nơi này, nơi kia, tôi thấy thương anh. Anh tốt quá và ngây thơ về chính trị quá. Ông bạn tôi làm trưởng phòng PA 25 công an tỉnh bảo tôi: Cha này thích làm lãnh tụ. Tôi cười bảo: Anh Quốc ngây thơ về chính trị thế thì làm lãnh tụ cái nỗi gì? Anh Quốc không thể làm lãnh tụ. Anh Quốc mãi mãi là một thi sỹ, chiến sỹ hát ca trong các cuộc cách mạng. Tiếc rằng, mọi cuộc cách mạng dù lâu dài đến đâu rồi cũng phải kết thúc. Trong hòa bình, cái tốt, cái xấu không phân trận tuyến nữa mà nó đan xen vào nhau. Và anh Quốc thường vấp phải những sai lầm của lòng tốt.
Sau đại hội Hội Văn Nghệ Lâm Đồng, tôi không đến thăm anh Quốc như đã hẹn với anh Trung An. Buổi chiều đi uống cà phê, tôi gọi điện cho anh, hẹn anh đi uống cà phê. Anh vui vẻ nhận lời ngay. Nhớ hôm qua Mỹ, qua email của Văn Công Hùng, anh cho tôi số di động của anh ở Mỹ, để nếu rảnh nói chuyện chơi. Tôi và anh ở cách xa nhau đến sáu ngàn cây số, vậy mà trong blogs Nguyễn Trọng Tạo có hình anh và tôi đang ở Mỹ. Không biết là hình ghép hay hình tôi và anh chụp ở đâu đó trong nước, tôi không còn nhớ.  Anh Quốc bảo tôi phải lên tiếng ủng hộ bài viết của anh in trên blogs. Anh bảo anh rất ghét cái thái độ im lặng. Nhà văn, theo anh là phải tham gia vào cuộc đấu tranh đòi tự do, dân chủ. Anh nói đúng quá, nhưng liệu nhà cầm quyền có nghe các nhà văn nói không? Anh bảo không cần biết hiệu quả đến đâu nhưng trách nhiệm nhà văn là phải cất lên tiếng nói của tự do, dân chủ...
Đúng anh là Bùi Minh Quốc. Anh đem cái lý tưởng sống thời Paven Coocsaghin vào thế kỷ thứ 21. Ngọn lửa nhiệt tình của anh không hề vơi cạn, mặc dầu trông anh đã tiều tụy đi nhiều so với lần gặp trước. Tôi biết anh khổ tâm vì sự dày vò trước hiện thực đất nước. Làm sao khuyên anh hãy tin ở nhân dân, tin ở chân lý, lẽ phải cuối cùng sẽ thắng! Những khát vọng tự do, dân chủ rồi sẽ được thực thi trên đất nước ta. Không lẽ máu xương của bao nhiêu đồng đội, trong đó có nhà văn Dương Thị Xuân Quý, vợ anh đổ ra uổng phí hay sao?  Không lẽ mục đích của cách mạng nước ta lại không phải là độc lập tự do hay sao?
 Trong quán vắng buổi chiều ở thành phố Đà lạt mộng mơ có độ cao trên một nghìn năm trăm mét, anh Quốc với chiếc áo chàm thổ cẩm cũ kỹ, với mái tóc bạc phơ và bù rối, không ai nghĩ trong lòng anh vẫn hừng hực ngọn lửa nhiệt tình vì một Việt nam dân chủ, tự do. Tôi thầm mong các nhà chức trách hãy hiểu anh, thông cảm với lòng nhiệt tình có lúc thái quá của anh. Anh đã có quá nhiều mất mát, thiệt thòi rồi. Hãy để anh Quốc làm nhiệm vụ chiến sỹ, thi sỹ như cái thuở anh viết Lên Miền Tây. Hãy luôn nghĩ Bùi Minh Quốc là Dương Hương Ly của mảnh đất khu V máu lửa.  Thơ của anh đã đi vào đời sống của chiến sỹ, đã theo các chiến sỹ liệt sỹ vĩnh viễn nằm lại trên mảnh đất khu V nói riêng và miền Nam nói chung.
Anh Quốc ra về đã lâu rồi, tôi vẫn ngồi đinh ninh trong quán. Những dòng chữ đầu tiên của bài viết này cứ hiện ra mỗi lúc một rõ dần.
Anh Quốc ơi! Tuy em không ủng hộ anh trong những việc anh làm, không thích nghe chuyện thế sự của anh, nhưng em hiểu anh, trân trọng công lao của anh đối với đất nước, và xót thương anh vì những mất mát, ly tán, thiệt thòi mà anh phải gánh chịu vì chiến tranh. Mong anh hiểu cho lòng em, anh Quốc nhé!
        VT 8/2/2013

    Xuân 2013