Tranh Trần Nhương
BÀI VIẾT MỚI
 
Trần Nhương
 
Truyện ngắn 
 

1

Cơ quan tôi như có một trận động đất khiến mọi người đều kinh hoàng. Từng tốp từng tốp thì thầm bàn tán và ai cũng như người mất hồn.

Duyên do là cô y tá nỏ mồm được sếp sai đi lấy kết quả khám sức khỏe định kì của ông. Chuyện tầy đình mà cô ta lại thì thầm với cô lao công, từ cô lao công loang ra cả cơ quan. Nếu là người khôn ngoan thì cô y tá giấu nhẹm cái kết quả kia, bí mật gặp sếp thì có khi được lộc to bố tướng. Đằng này thì cô lại thắc mắc hỏi mọi người rằng “Sao lại thế ?”. Thật tình vì cô quá yêu mến thủ trưởng, quá tin thủ trưởng của mình vốn nghiêm như cái cột điện đường dây Bắc Nam. Làm gì có chuyện ấy, có tên nào ác ý với sếp chứ chả chơi. Đã lâu cô biết rất rõ sếp mình cẩn thận thế nào, sạch sẽ thế nào, không thể có chuyện lây nhiễm cái thứ của nợ ấy.

Các bạn có biết cái kết quả chết người ấy là gì không. Kết luận của bệnh viện điều trị cán bộ cao cấp rằng sếp tôi bị HIV. Ở cái nước mình thứ bệnh này bao giờ cũng kèm theo sự ăn chơi sa đọa, quan hệ nhăng nhít, gái gú tùm lum gì đó. Kết luận ấy là của sếp tôi một người kiêng khem, cẩn trọng, không ăn chơi lăng loàn thì vừa lạ lùng vừa kinh hoàng có khác nào thày tiểu chửa hoang.

Anh em trong cơ quan túm năm tụm ba mỗi anh một chuyện kể về sự cẩn trọng, sạch sẽ của sếp. Anh chàng Kỳ ở ban Tổng hợp nói như đinh đóng cột rằng cóc phải thế, có chuyện nhầm lẫn gì đây. Các ông có nhớ chuyện trên Sơn La kết luận mấy anh cán bộ bị ết. Tức quá mấy chàng phi về Hà Nội kiểm tra thì cho kết quả âm tính. Thế là chuyện tùm lum kiện cáo làm hại danh dự mà báo chí làm ỏm tỏi một thời. Rồi anh chàng Kỳ thuật lại một chuyến đi công tác với sếp.

Xem tiếp
Ảnh: FB Hoàng Tuấn Công/ internet

Hoàng Tuấn Công

Sơn Trà không phải của riêng Đà Nẵng. Sơn Trà là của cha ông từ nghìn xưa để lại cho cháu con nước Việt. Vậy mà bán đảo xinh tươi này đang bị một nhóm người có quyền lực đào bới, triệt hạ cỏ cây, hòng bóc lột thiên nhiên đến tận xương tuỷ…

“Đại Nam nhất thống chí” chép:

“Núi Trà ở phía đông huyện Diên Phước. Núi cao sừng sững giữa trời, luôn có mây mù tuôn ra, rừng cây rậm tối, hươu nai sinh sản từng bầy. Phía Đông giáp biển, phía Đông Nam có dãy núi liền nhau, trông như hình con sư tử, tục gọi là núi Nghê (Nghê sơn). Tương truyền trên núi có ngọc, ban đêm thấy ánh hào quang chiếu ra ngoài biển. Phía Tây có đảo Mỏ Diều, có pháo đài phòng ngự ở đấy. Phía Bắc có núi Cổ Ngựa đối diện với hòn Ngự Hải. Phía Tây cửa biển là vụng Trà Sơn làm chỗ cho ghe thuyền đậu neo rất thuận tiện…”.
Núi Trà (Trà Sơn) chính là vùng núi Sơn Trà ngày nay.

Trong số những dòng trìu mến mà “Đại Nam nhất thống chí” dành cho Trà Sơn, không thấy nhắc gì đến loài Voọc chà vá chân nâu, hay loài khỉ vượn nào đó. Tuy nhiên, phần viết về vùng giáp giới giữa Thừa Thiên với Quảng Nam, sách này có chép về một loài linh trưởng có tên là “Bạc mày” (còn gọi là “quả nhiên” 猓然, “tiên hầu” 僊猴…):
Xem tiếp
Nông Hồng Diệu
 
TP - Thơ gã lần đầu được ra nước ngoài, đăng trên tạp chí Prairie Schooner, một trong những tạp chí văn học uy tín của Mỹ. Chẳng những thế, bài “Lời thề mùa đông” của gã còn vinh dự được tạp chí này bầu chọn là bài thơ hay tiêu biểu (3 tháng chọn một lần, nhưng cũng có những lần không chọn được bài nào). Khỏi phải nói cũng biết Bùi Hoàng Tám sướng thế nào!

Ngồi trong quán cà phê, gã nhẩm tính: Cuộc đời làm thơ của gã cho đến lúc này đã có ba lần “lên đỉnh”. Lần đầu, khi bài thơ “Trước một trời sao” của gã được lên báo địa phương, từ một kẻ lao động chân tay bỗng chốc gã được chung mâm, chung chiếu với những đấng bậc của văn học nghệ thuật Thái Bình. Rõ sướng! Lần thứ hai, thơ gã bay cao hơn, tới tầm quốc gia, góp mặt trên báo Văn Nghệ thời ấy. Gã từng tường thuật trạng thái này: “chân tay bủn rủn, mồ hôi lấm tấm lưng, tóc gáy hơi giật giật”, tức tốc về khoe vợ, bị vợ tương cho một câu: “Gí “một số thứ” vào thơ nhé”. Gã liền “đẻ” ra một câu thơ ba lăng nhăng về việc gí một số thứ vào thơ trở thành giai thoại. Lần thứ ba, ngót 60 tuổi, gã lại được “lên đỉnh”. Có lẽ do tuổi tác và trải nghiệm nên lão không bủn rủn tay chân, không đổ mồ hôi nhưng vui thì vẫn thế, gọi điện khoe ngay với những kẻ cần khoe. Không chỉ khoe thành tích, Bùi Hoàng Tám còn cất giọng không mấy trong trẻo đọc liền mạch bài thơ “Lời thề mùa đông”: “Bắt đầu từ một mùa đông/Anh tôi ra trận, rồi không trở về/Cũng từ một buổi chiều quê/Chị tôi đã nhận lời thề mùa đông…”.

Nhà thơ Bùi Hoàng Tám: Lần đầu vượt Thái Bình Dương ảnh 1Nhà thơ Bùi Hoàng Tám.
Xem tiếp
 
 Trương Tuần 
 
- Này cụ cố tri khả kính ơi
- Ghớm hôm nay cất lời có cánh hay thế ?
- Thì có câu thắc mắc đây.
- Hỏi gì hỏi luôn không mất hứng.
- Cụ thấy một số nơi cơ quan công quyền như thực hiện "Tam không" (không nhìn, không nghe, không nói). Quản lí xã hội, địa bàn mà như người trên Giời, chả biết cái gì...
- Cụ nhầm đấy nhé. Họ biết tuốt nhưng họ có quyền lợi nên "tam không". Cụ thử mang vài viên gạch đến trước nhà xem là có ngay cán bộ đến tra hỏi.
- Chết thật nào cát tặc, lâm tặc, dâm tặc, than tặc, quặng tặc...phố Tầu, phá núi xây biệt thự...Trăm thứ be bét mà tuyền các đồng chí xuất sắc thì dân gánh đủ...
- Sao cụ cứ lo quá thế nhỉ, cụ "gái góa mà lo triều đình"
- Mình là công dân phải chung lo chứ cụ.
- Cụ hãy lo dạy con cháu chịu khó tằn tiện để trả nợ
- Nợ to hả cụ ?
- Thì bố anh Chúa Chổm.
- Lại đến thế kia à cụ ?
- Thì VƯỠN... 
Xem tiếp
 
 Dạ Ngân
Được tin bà Nguyễn Thị Xuân Lan (vợ cố học giả Nguyễn Kiến Giang) đã từ trần lúc 22h15 ngày 19.3 (22.2 âm lịch) tại nhà riêng. Lễ viếng từ 10h đến 11h30, thứ 5 ngày 23.3 (26.2 âm lịch) tại Nhà tang lễ thành phố (địa chỉ 125 Phùng Hưng, Hà Nội). Người Đô Thị Online thành kính chia buồn cùng tang quyến.

Bà Nguyễn Thị Xuân Lan từng làm việc trong hệ thống chính quyền cách mạng từ năm 1950 và nghỉ hưu năm 1985. Là đảng viên hơn 50 năm tuổi đảng, bà Xuân Lan luôn sát cánh bên người chồng mà bà trọn đời yêu quý, kính trọng, bất chấp những thăng trầm, hoạn nạn đã đến với ông và gia đình. Cả sáu người con của ông bà, dưới sự giáo dưỡng của gia đình mà bà là trụ cột, đều là những trí thức viên chức có uy tín đã và đang làm việc ở các lĩnh vực kiến trúc, sử học, kinh tế. Người con trai duy nhất của ông bà trong sáu người con là Tiến sĩ Nguyễn Quốc Tuấn - Viện trưởng Viện Nghiên cứu tôn giáo Viện Hàn lâm khoa học Việt Nam. Bà Nguyễn Thị Xuân Lan từng xuất hiện với tư cách nhân vật trong bài viết "Đế của tượng" của nhà văn Dạ Ngân, đăng tải trên Người Đô Thị số 53 (phát hành ngày 29.9.2016) Người Đô Thị Online xin giới thiệu lại cùng bạn đọc.
Xem tiếp
 
Trần Tuấn Phương
 
TNc: Bạn trẻ Trần Tuấn Phương từ thành Nam vừa gửi cho trang nhà bài phản biện ý kiến của ông Lã Trọng Long in trên báo Văn Nghệ, Thư bạn Phương có đoạn: " Cháu rất cảm ơn cụ Trần Nhương đăng ý kiến của cháu, để góp thêm tiếng nói của một người trẻ tuổi gửi tới các bậc tiền bối rằng đừng làm chúng cháu hiểu sai lịch sử và chán lịch sử hơn nữa.". Xin giới thiệu ý kiến của bạn trẻ Trần Tuấn Phương.
 
(Phản hồi bài viết của tác giả Lã Trọng Long trên báo Văn nghệ số 12 ngày 25/3/2017)
Đọc bài “Ở ngôi mộ cổ Vĩnh Bảo” của tác giả Lã Trọng Long, cháu rất ngạc nhiên rằng sao một người đọc chưa hiểu đã phán bừa về học vị của cụ Trạng Trình như vậy. Ngạc nhiên hơn là báo Văn nghệ không ai hiểu biết để kiểm duyệt cho chính xác?
 
Cháu tuy còn là học sinh cũng xin ý kiến thế này:
 
Từ thời Lê đã chia học vị các vị đỗ đại khoa làm 3 giáp là Đệ nhất giáp, Đệ nhị giáp và Đệ tam giáp. Đệ nhất giáp được ban “cập đệ”, Đệ nhị giáp và Đệ tam giáp được ban “xuất thân”. Đệ nhất giáp lại chia theo thứ tự cao xuống thấp là đệ nhất danh (Trạng nguyên), đệ nhị danh (Bảng nhãn) và đệ tam danh (Thám hoa).
Về cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, có rất nhiều tài liệu như Đỉnh khiết lịch triều đăng khoa lục, Đại Việt lịch đại đăng khoa, Liệt huyện đăng khoa bị khảo, Tam khôi lục, Tam khôi bị lục, Đại Việt lịch đại Tiến sĩ khoa thực lục, Lịch triều hiến chương loại chí v.v... đã nói rõ cụ đỗ Đệ nhất giáp Ttến sĩ cập đệ Đệ nhất danh (Trạng nguyên) khoa Ất Mùi niên hiệu Đại Chính 6 (1535) đời Mạc Đăng Doanh.
Tác giả Lã Trọng Long, chắc do kiến văn thiếu hụt nên phán bừa. Với lại chính tác giả nói cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm “chỉ đỗ Tiến sĩ cập đệ, đệ nhất danh”. Đã đỗ Tiến sĩ cập đệ thì hiển nhiên là đỗ Đệ nhất giáp, mà lại là Đệ nhất danh trong nhất giáp thì hiển nhiên là Trạng nguyên rồi. Đã viết vậy mà lại bảo không phải trạng nguyên thì rõ ràng ông Lã Trọng Long viết mà chẳng hiểu điều mình viết.
 
Xem tiếp

Nguyễn Hưng Hải

Đọc tập thơ “Trắng tóc đường lau”

của Vũ Oanh ( Nxb Hội Nhà văn / 2016)

Cũng như nhà thơ Vũ Quần Phương, Vũ Oanh là một bác sỹ giỏi về trị bệnh cứu người. Là một bác sỹ nên thơ ông cũng rất nhiểu “ bắt mạch kê đơn”. Ông vừa là một “ Lương y như từ mẫu” vừa là Thầy thuốc của tâm hồn. Đọc Vũ Oanh và quen biết ông từ lâu, trân trọng một nhân cách, một tấm lòng hết mực thương yêu con người và luôn trân quý bạn bè nên tôi thật sự mừng vui khi biết ông được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam, cách đây chừng 5-7 năm gì đó.

Càng mừng hơn khi được ông tặng tập thơ Trắng tóc đường lau (Nxb Hội Nhà văn / 2016), và cảm nhận được ở đó thật nhiều nỗi niềm trăn trở, cả những cảnh tỉnh, dự báo và ký ức của một thời trận mạc. Ông nghiêng bút về phía cội nguồn, cảm xúc cội nguồn lấp lánh một vẻ đẹp nhân cách. Thành công rõ nhất trong tập thơ này là những bài ông viết về Cố hương, viết về những người thương yêu ruột thịt, viết về chính nghề “ cứu người” của ông và những bài thơ viết về Người lính và chiến tranh cách mạng. Có cảm giác, ông quan tâm nhiều hơn, can dự nhiều hơn về thời thế và nhân thế. Khác với những tập thơ đã xuất bản trong vòng hơn 10 năm nay, ở tập thơ này, ta bắt gặp một Vũ Oanh đầy chiêm nghiệm và trải nghiệm. Ông thực sự là một người lính tiên phong đi tìm hồn người – hồn chữ.

Đã từng cứu sống bao mạng người, chứng kiến bao giây phút hiểm nghèo của người bệnh, đưa người bệnh trở về từ “cõi chết” nên thơ ông đầy nước mắt và cẩn trọng. Đạo đức và lương tâm của người thày thuốc cũng thể hiện rất rõ trong thơ ông. Cảm giác nhận được từ Trắng tóc đường lau là những thông điệp về ý thức công dân và vẻ đẹp nhân cách. Là người sống có trách nhiệm và chăm chút từng ly cho vẻ đẹp, nên thơ Vũ Oanh cũng đẹp một cách tự nhiên và chân mộc như tâm hồn ông vậy. Tôi rất thích những câu thơ, bài thơ được viết bằng ký ức của ông. Căn cước cho thơ ông được bắt nguồn từ cảm xúc cội nguồn viết về Cố hương, thơ ông đầy day dứt : Bão tố quê nhà quắt quay/ Thiên thu dáng ông vẫn vậy/ Bấy nay cháu đã về đây/ Tay lật từng trang sóng dậy.

Xem tiếp


Kiều Mai Sơn thực hiệnKết quả hình ảnh cho Nhà văn Hoàng Quốc Hải

Thư phỏng vấn nhà văn Hoàng Quốc Hải của nhà báo Kiều Mai Sơn-

phóng viên báo Nông nghiệp.

kính gửi nhà văn Hoàng Quốc Hải

Thưa bác, báo Nông nghiệp Việt Nam thực hiện chùm bài: Hoằng Nghị đại vương có phải là bố đẻ Thái sư Trần Thủ Độ ?

Bác là nhà văn chuyên viết về triều Trần. Nay cháu xin phép được có một số câu hỏi mong được bác giải đáp giúp cho về bố đẻ Thái sư Trần Thủ Độ và Hoằng Nghị đại vương.

Nhà văn Hoàng Quốc Hải:

Trước hết, tôi hoan nghênh sự tham gia thảo luận của báo ta về các vấn đề lịch sử và nhân vật lịch sử. Điều đó không chỉ làm rộng đường dư luận mà còn giúp cho người dân có cơ hội tiếp cận với lịch sử dân tộc, nhằm mục đích nâng cao dân trí, qua đó bồi bổ thêm lòng yêu nước. Người yêu nước, không thể không biết rõ lịch sử nước mình. Cụ Hồ Chí Minh từng nói: “Dân ta phải biết sử ta”. Còn nhà văn Nguyễn Huy Tưởng trong nhật ký viết trước 1945, ông đã ghi: “Người không biết lịch sử nước mình, chẳng khác một con trâu đi cày, nó cày bất cứ thửa ruộng nào với bất cứ ông chủ nào cũng vậy thôi”.

Ước sao các báo cùng tham gia thảo luận rộng rãi về nhiều vấn đề trong lịch sử nước nhà, cũng là điều giúp con cháu chúng ta có thêm kiến thức lịch sử và yêu môn lịch sử hơn.

 
Ảnh Nhà văn Hoàng Quốc Hải và TS Nguyễn Xuân Diện 
Xem tiếp
 
TS Nguyễn Hồng KiênKết quả hình ảnh cho khai ấn
 
 
Chuyện khai ấn - phát ấn ngày một tràn lan trên nhiều tỉnh thành. Nhiều tệ nạn cũng sinh ra từ đó...
Đầu tiên là Nam Định nâng cấp lễ hội làng Tức Mặc thành lễ hội cấp quốc gia. Sau đó "đẻ" ra chuyện khai/phát ấn ở đền Trần Thương (Nhân Đạo, Lý Nhân, Hà Nam), đền Trần Tam Đường (Tiến Đức, Hưng Hà, Thái Bình), ở khu văn hóa núi Bài Thơ (TP Hạ Long, Quảng Ninh), khu di tích Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội)...
Cá nhân tôi với tư cách một người làm khảo cổ học khẳng định: không có một cái ấn nào, không có một lễ khai ấn nào có được bất kỳ một căn cứ lịch sử và khoa học nào.
 
Xuyên tạc lịch sử?
 
1 Chuyện khai ấn và phát dưới 10 bản in ấn “Trần miếu tự điển” (Tôn miếu của nhà Trần từ xưa) vốn chỉ là chuyện nội bộ của làng Tức Mặc, dưới thời Nguyễn, để chống lại, giảm thiểu tác hại của việc đâu đâu cũng nhận là đền “chân truyền” thờ Đức Hưng Đạo đại vương.
Sau đó việc này bị nhập nhèm giữa chuyện phong ấn/khai ấn của chính quyền hằng năm với việc bịa tạc về chuyện vua Trần thưởng công, phong tước sau chiến thắng quân Nguyên lần thứ nhất năm 1258. Rồi chẳng biết từ khi nào “dân gian hiện đại” tin rằng có được lá ấn ấy sẽ được thăng quan tiến chức, mua may bán đắt...
Tại hội thảo khoa học về lễ hội đền Trần của Viện Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật Bộ VH-TT&DL và UBND tỉnh Nam Định tổ chức năm 2011, tôi đã có tham luận khẳng định việc khai ấn ở đền Trần Tức Mặc là một xuyên tạc lịch sử và không nhận được một phản biện khoa học nào.
2 “Tiểu sử” của “lễ phát lương” ở đền Trần Thương (Hà Nam) cũng hoàn toàn là hư cấu. Kể cả có tin theo truyền miệng dân gian rằng ở đây từng là kho trữ lương thời Trần thì chẳng có lý nào lại cho tờ in ấn vua Trần vào trong túi lương gồm ngô vàng, thóc nếp.
Xem tiếp
Bạn đọc khắp nơi trên thế giới truy cập vào trannhuong.com
Profile Visitor Map - Click to view visits
Click vào đây để xem chi tiết (Hình ảnh 5 phút cập nhật lại 1 lần)