Tranh Trần Nhương
BÀI VIẾT MỚI


Nhà văn Cao Năm, Hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam đã từ trần vào hồi 22 giờ 37 phút, ngày 01 tháng 09 năm 2015 tại nhà riêng số 6B, ngõ 258 Đà Nẵng, tổ 26 phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Hưởng dương 76 tuổi.

Lễ viếng từ 14 giờ ngày 02 tháng 09 năm 2015, lễ truy điệu và đưa tang vào hồi 7 giờ 30 ngày 03 tháng 09 năm 2015 tại nhà riêng; Hỏa táng tại Đài hóa thân hoàn vũ – Nghĩa trang Ninh Hải – Hải Phòng. An táng tại xã Cấp Tiến, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

Trang trannhuong.com xin chia buồn cùng gia quyến nhà văn Cao Năm, cầu mong cho linh hồn ông thanh thản về cõi vĩnh hằng !

Xem tiếp
Nguyễn Khắc Phê
 
 

Một ngày đầu Tháng 8 lịch sử này, tôi lại gặp Đặng Văn Việt (ĐVV). Ông vào Huế “đóng phim”! Sự kiện ĐVV và Nguyễn Thế Lương (sau này trở thành tướng Cao Pha) kéo cờ đỏ sao vàng lên kỳ đài Huế ngày 21/8/1945 đã đi vào lịch sử, đã được báo chí và Đài Truyền hình đưa lên nhiều lần, nhưng lần này, kỷ niệm 70 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, thì hình ảnh ngọn cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên tung bay trên kinh thành Huế, thay thế cờ quẻ ly của nhà vua, báo hiệu sự kết thúc triều đại phong kiến và mở đầu thời đại mới của dân tộc không thể thiếu trong chương trình lớn ngày đại lễ, nên Đài Truyền hình Trung ương lại mời ĐVV vào Huế “đóng phim”!

Về sự kiện này, dù đã kể nhiều lần, đến nay ĐVV bỗng “tự phát hiện” ra một cách nhìn mới, hàm chứa nhiều ý nghĩa. Ông “khoe” với tôi bài viết dự cuộc thi “Hồi ức cuộc đời” do báo “Người cao tuổi” tổ chức, tay níu vai tôi, vừa đọc, vừa giảng giải thêm: “Bài dự thi này, nếu được giải nhất là 10 triệu đó! Phê nghe đây, lần này mình coi như là một trận đánh…”

Cũng là câu chuyện 70 năm trước, nhưng ĐVV mở đầu một cách khá đặc biệt, với những đề mục chữ đậm và “gạch đầu dòng” như là một “đề cương” báo cáo:

“Tương quan lực lượng:

- Binh hỏa lực của ta: Hai ngự lâm quân: Đặng Văn Việt và Nguyễn Thế Lương. Một barillet và 6 viên đạn xịt.

-Binh hỏa lực của đối phương: (Vua Bảo Đại – Nam Phương Hoàng hậu có mặt.)

+ 01 thầy đội. 01 lãnh binh, 12 lính dõng, 12 súng mútcơtông;

+ Một đại đội khố vàng, 120 súng mútcơtông;

+ 10 khẩu pháo đùng, 10 khẩu thần công (200 ly).

Kết quả:

+ Hạ được cờ nhà vua, treo cờ cách mạng mở trang sử mới, ngai vàng sụp đổ

 
Ảnh: Ông Đặng Văn Việt người thứ 2 trái sang 
 
Xem tiếp
  
 Tuyên ngôn Bác đọc hôm nào
Vẫn là cháy bỏng khát khao dân mình...
Xem tiếp
Phùng Quán


Nhà thơ Phùng Quán năm 1992 viết về ông Nguyễn Hữu Đang, người dựng kỳ đài Ngày Độc lập 2/9 năm 1945 ở Hà Nội.
Ông Nguyễn Hữu Đang (1913-2007) từng bị thực dân Pháp bắt từ 1930, tham gia Mặt Trận Dân chủ Đông Dương (1937-1939), Hội truyền bá Quốc ngữ (1938-1945), phong trào Văn Hóa Cứu Quốc (1943-1946), Ủy Ban Giải phóng Dân Tộc tại Tân Trào 1945. Ông là người tổ chức ngày lễ 2-9-1945, xây dựng khán đài để Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại vườn hoa Ba Đình Hà Nội.
Trích đoạn bài của Phùng Quán (1932-1995):
Tôi là người viết văn nhưng lại đặc biệt say mê nghệ thuật kiến trúc...[Ở nhà tôi, ngoài hình ảnh những] Kim tự tháp, Vạn lý trường thành, Đền Ăngco, Chùa Vàng Miến Điện, Cố cung, Tháp Eiffel, Khải hoàn môn... tôi có chừng vài chục tấm hình cắt ra từ các báo như Nhân Dân, Quân Đội, Lao Động, Hà Nội Mới... chụp cảnh Lễ đài Độc lập với tổng thể Vườn hoa Ba Đình trong ngày Mồng hai tháng năm Một nghìn chín trăm bốn lăm.
Mỗi lần ngắm nhìn cái công trình kiến trúc mỏng manh được xây dựng bằng gỗ, ván, đinh, vải; được thiết kế và thi công trong vòng 48 giờ đồng hồ – nếu chậm lại một giờ là hỏng – rồi sau đó biến mất khỏi mặt đất như một lâu đài trong cổ tích, cặp mắt mờ đục của người lính già tôi bao giờ cũng cay lệ... Xem tiếp

 Bùi Tiến Đạt

 
Để đất nước phát triển, con ngườn tự do sáng tạo. Do đó, trong một xã hội dân chủ, về nguyên tắc không gian tự do cần tương đối rộng và ngược lại những hạn chế quyền tự do phải tương đối hẹp.i cần không gia


Quyền con người trong Tuyên ngôn độc lập 1945…

Ngay trong những ngày đầu của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa độc lập, cụ thể ngày 17/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.

Hồ Chí Minh cũng đã thể hiện rõ tư tưởng bảo đảm quyền tự do của nhân dân trong bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945. Ngay từ những câu đầu tiên, Người đã trích dẫn những “lời bất hủ” (nguyên văn chữ dùng của Bác) trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ do Thomas Jefferson soạn thảo: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

Người còn nhắc lại Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 như một sự lên án đanh thép tội ác của thực dân Pháp đã “lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta… tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào… thi hành những luật pháp dã man”.

Tại sao Người lại nhấn mạnh trong Tuyên ngôn độc lập một tư tưởng từ tuyên ngôn độc lập và dân quyền của các quốc gia tư bản? Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời ngay trong Tuyên ngôn độc lập 1945: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Hồ Chí Minh đã phân biệt rạch ròi giữa chế độ chính trị của một quốc gia và chân lý, giá trị phổ quát của nhân loại.

Thật vậy, các quốc gia dù khác nhau về chế độ chính trị đều phải hướng tới mục tiêu bảo vệ các quyền và tự do căn bản và đem lại cuộc sống hạnh phúc cho người dân.

Xem tiếp
 
Hoan hô anh Đoàn Văn Vươn
Mãn tù về với ruộng vườn quê ta
Tiên Lãng Gút gồ bao xa (tienlang.google)
Anh làm nổi tiếng huyện nhà như côn (cồn) 
Xem tiếp
Phạm Đình Khanh
 
Với hàng trăm tác phẩm viết trên giấy dó, giấy xuyến chỉ, lụa Hàng Châu…, khi là một câu văn, một bài thơ cổ, đến những tác phẩm triết học, văn chương nổi tiếng của nước ta, ông là thư pháp gia danh tiếng. Người ta còn biết ông là lương y nổi tiếng một thời, một bậc túc Nho của kinh kỳ Thăng Long nhưng dường như còn ít ai biết ông là một tấm gương tự học không ngừng với một trí tuệ sắc sảo, tinh tế và một trái tim nhân hậu.
 
Học không biết chán
 
Ông sinh năm 1924, ở xã Nghĩa Hưng, huyện Gia Lộc, tỉnh Hưng Yên, trong gia đình hàn nho. Ông học chữ Hán và học nghề thuốc từ thân phụ ông là một nhà Nho và là lương y danh tiếng. Lớn lên, ông nối nghiệp thân phụ, trở thành lương y bốc thuốc chữa bệnh cho con người. Một thời gian, ông và gia đình từng sống ở Hải Phòng cho đến năm 1959, ông dự thi và trúng tuyển cùng 28 vị lương y khác vào làm giảng viên lớp Đông y đầu tiên của Viện y học cổ truyền trung ương (Nay gọi là Bệnh viện y học cổ truyền trung ương)
.
Long Thành lão nhân Nguyễn Văn Bách
Thuở thiếu thời, ông được thân phụ dạy chữ của thánh hiền. Ông học chữ nghĩa trong mọi lúc, ở mọi nơi: lấy gạch non viết xuống mặt đất; lấy hòn sành, khúc tre nhỏ viết lên mặt đất, cát; lấy cuống tàu chuối viết lên mặt sàn nhà, thềm nhà…cho đến lúc thân phụ bảo tạm được, bấy giờ mới được cầm bút lông chấm mực tập viết. Ông vui vẻ thừa nhận rằng thuở ấu thơ đôi khi mải chơi cùng chúng bạn, quên chữ, quên bài hoặc viết chưa đạt yêu cầu nên “bị cha véo đến tím tai”…
Xem tiếp

 Dân Huyền

 
Mỗi lần xa quê hương, xa đất nước mà nghe nhạc hiệu “Diệt phát xít” trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam (TNVN) thì lòng tôi cứ xốn xang, bồi hồi. Tôi đã đôi lần trải qua những thời khắc đáng nhớ ấy, nên càng yêu mến tiếng nói quê hương, tự hào về nó.

Trong thời gian công tác ở Đài TNVN, tôi được vài lần gặp gỡ với ông Nguyễn Đình Thi – Tác giả của bài hát “Diệt phát xít” khi đến trò chuyện với anh chị em biên tập văn nghệ. Vốn là người “nhà Đài” từ những ngày đầu mới thành lập, như lời Tổng biên tập Trần Lâm giới thiệu, nên buổi gặp gỡ nào cũng thân mật, chân tình. Có lẽ vì vậy mà ông đã trải lòng mình, kể nhiều chuyện vui buồn, những lo âu của nghề biên tập cũng như trên bước đường nghệ thuật của một nhà văn hóa lớn đầy tài hoa về văn, thơ, họa, nhạc, kịch…

 


Nguyễn Đình Thi (Ảnh: Văn nghệ Quân đội)

Tôi đã hỏi ông về sự ra đời của bài hát “Diệt phát xít”. Nguyễn Đình Thi như nhớ lại rồi chậm rãi kể: “Khoảng năm 10 tuổi, bố tôi bắt tập đàn Nguyệt, dần dà đánh thạo được mấy bài Cổ Bản, Tứ Đại Cảnh, Lưu Thủy… Thấy hay hay, tôi học thêm đàn Mandolin và đánh được mấy bản nhạc Tây. Tôi học lý thuyết từ sách dạy nhạc của trường Tiểu hoc Pháp do bố mẹ mua. Tôi tự học nhạc bằng nghe nhiều hơn, có lẽ vì vậy mà tôi viết nhạc không nhiều.

Xem tiếp
Bạn đọc khắp nơi trên thế giới truy cập vào trannhuong.com
Profile Visitor Map - Click to view visits
Click vào đây để xem chi tiết (Hình ảnh 5 phút cập nhật lại 1 lần)