Tranh Trần Nhương
BÀI VIẾT MỚI
 
TNc: Chúng tôi đưa hai bài này lên để thảo luận về Thơ luật Đường VN. Ý khiến khác nhau là chuyện bình thường và cần tôn trọng ý kiến khác mình...

(Về bài “Thơ Đường luật thời @” của tác giả Ngọc Châu đăng trên tập san
“Thơ đường đất Việt” ra hàng quý - số 4 - trang 42 năm 2016).

Phạm Liên

Vừa qua tôi có đọc bài luận văn phân tích về: “Thơ Đường luật thời
@” của tác giả Ngọc Châu đăng trên tập san “Thơ đường đất Việt” ra hàng
quý - số 4 - trang 42 năm 2016.
Khi viết bài “Thơ Đường luật thời @” tác giả Ngọc Châu muốn
chứng minh rằng mình có trình độ: Biết nhiều, hiểu rộng nên ông đã tự khoe
ông là: “nhà văn, nhà giáo, nhà dịch giả, cử nhân, hội nhà văn Hải Phòng, nhà
biên tập đường thi cho ba Website văn chương, vănthơViệt.com,
vănđànViệt.net, thơđườngđấtViệt v.v…”.
Trong bài báo ông dùng rất nhiều từ thuật ngữ, cả tiếng Tây nữa để
cho các “bô lão” đọc, để tỏ ra rằng: ông rất “đa văn, nhiều chữ”. Ví dụ: từ
“gạo cội, hình sin, biên độ, hiệu năng, ấu vờ, du di, tuổi teen, ngõ hầu, nude
hot, người tân thời”. Có chỗ ông giải thích: “gạo cội” là (văn học, hội nhà
văn) (!) liệu có đúng không? Ông Châu hiểu thế nào là “Người tân thời?”.
Xem tiếp
 
Ngọc ChâuKết quả hình ảnh cho nhà thơ Ngọc Châu
 
  

Đường Thi hay thơ viết theo luật thơ Đường có thể ví như là một dòng sông văn chương khởi nguyên từ đất Hán, tạo ra những biển hồ bao la nhưng cuối cùng lại thu nhỏ thành sông và đang có trào lưu ra biển ở đất Việt. Tuy xuất xứ từ đời nhà Đường bên Trung Hoa nhưng người Việt chúng ta đã từng có hàng nghìn năm thưởng thức và sử dụng nó để chuyển tải nhiều vấn đề, không chỉ trong khía cạnh văn chương đơn thuần.

Hiện tại chính người Trung Hoa viết nó còn khó khăn và thậm chí không hay bằng người Việt mình viết ra, vì tiếng Tầu (Mandarin Chinese) ngày nay đã thay đổi rất nhiều về âm sắc lẫn hình thái, nhằm khắc phục nhược điểm của thứ ngôn ngữ tượng hình, để họ dễ tiếp cận với thế giới. Trong khi ngữ pháp và âm sắc tiếng Việt ta tuy được nâng cao và bổ xung nhiều, nhưng không có sự rẽ ngang đột ngột nào.

Chúng ta đều biết thơ luật Đường đã bị xếp xó từ những năm 30 của thế kỉ trước, nhường chỗ cho Thơ Mới nhưng bất cứ trào lưu gì cũng đều chuyển động theo hình sin, khác nhau chăng là về biên độ. Ngày nay trình độ dân trí của người Việt ta đã được nâng lên một mức khá cao so với ngày đó, nên mới có hiện tượng hàng triệu người làm thơ, yêu thơ - trong đó nhiều người là hội viên của CLB Unesco thơ Đường Việt Nam, bao gồm rất nhiều Chi nhánh trên toàn quốc.

Phải thừa nhận một thực tế là đại đa số người làm Đường thi hiện nay thuộc về lớp người cao tuổi. Các cụ rất tâm đắc với Đường thi, sáng tác nhiều, duy trì sinh hoạt Câu lạc bộ đều đặn, thường xuyên tổ chức giao lưu giữa các vùng miền khác nhau để học hỏi và tạo nguồn thi hứng. Một cố gắng chung của CLB thơ Đường Việt Nam cũng như của các Chi nhánh là luôn có ấn phẩm mới, từ những tập Đường thi mỏng vài chục trang của cá nhân các thi lão tới những tập hàng trăm trang của chi nhánh vùng miền; Đặc biệt là nhiều tập Thơ Đường luật Việt Nam do CLB Unesco Việt Nam chủ trì tuyển chọn với độ dày hàng ngàn trang, có dung lượng hàng ba bốn ngàn bài thơ mỗi tập, in ấn theo giấy phép của các Nhà Xuất bản gạo cội (Văn Học, Hội nhà văn...) đã đem lại sự kính nể cho người đọc, là thú vui tao nhã cho người yêu văn chương khi đọc cũng như bàn luận chuyện văn chương-thế sự.

Xem tiếp

Chu Văn Sơn- Chưa bao giờ nỗi bất an về thực tại người chịu buông tha thơ. Nhưng, chưa khi nào nó khiến thơ trầm cảm như thế trong lát cắt hiện thời. Đến nỗi, có thể coi niềm thơ của thời đại này chính là Nỗi Bất An đó. Mỗi hồn thơ một bất an riêng, mỗi người thơ một nỗ lực hóa giải riêng.

      Nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh >>>>

*

Đã gùi gắng chu toàn mọi bề cho đến cả những chăm chút bé mọn nhất, mà lòng vẫn chưa thanh thỏa, vẫn chả hết lo âu. Thơ vẫn đầy tân toan nỗi mình, nỗi đời. Đó là nỗ lực Nguyễn Thúy Quỳnh chăng ?
Chắt tâm tư vào ý. Rũ bớt phấn hoa cho lời. Gia tăng tượng trưng cho hình. Giảm thiểu nồng nã cho giọng. Thơ mộc mà vẫn phiêu. Đó là cách thơ Nguyễn Thúy Quỳnh chăng ?



DỰNG NHÀ

Trông trời trông đất trông người trông ta
Dựng một cái nhà mở ra năm cửa

Cửa quay hướng núi
bốn mùa tốt tươi
theo đời trôi dài cùng mây khói
có lúc về bên núi ta ngồi.

Cửa trông ra biển
rười rượi gió lành
lỡ có ngày ta lấm láp
biển gột dùm cho tới trong xanh.

Cửa mở sang láng giềng
ta mang hết thiện chân ra đổi
mong nhận về đôi kẻ tri âm
khi tối đèn tắt lửa.

Cửa vọng ông bà
nơi ta bước vào cúi đầu, bước ra dài rộng
gập ghềnh đường xa, quanh co lối hẹp
những chân nhang dõi theo
nhắc lối thơm về.

Cửa trổ lên trời
mai ngày
không nợ nần chi nữa
thuận đường mà rong chơi.

Xem tiếp
 
Phan Nguyên Luân… tổng hợp/thực hiện
 

VIỆT STAR MEDIA: “LỊCH SỬ GHI LẠI…”

– Phát hiện cuốn sách cổ của nhà Thanh, in đời vua Quang Tự (1875-1909) khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông là của Việt Nam.

Trong quá trình điền dã tại các địa phương trên địa bàn tỉnh Thái Bình, tại gia đình anh Phan Văn Luyện (xã Vũ Chính, Thành phố Thái Bình) chúng tôi đã tiếp cận được cuốn sách cổ, in vào đời Vua Đức Tông (Tải Điềm) – nhà Thanh (niên hiệu Quang Tự, 1875-1909). Sách in thạch bản (in đá) bằng chữ Hán).
Anh Luyện đã vui vẻ trao quyển sách này cho chúng tôi sở hữu và nghiên cứu với hi vọng có thêm những cứ liệu để công bố trước công luận và làm bằng chứng để khẳng định chủ quyền biển, đảo Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam.
Cuốn sách này có tên “Danh hoàn Chí lược” (Sách ghi chép về địa lý Thế giới), có khổ 20cm x 14,5cm, người giám định sách là hai tiên sinh Bích Tinh Tuyền và Lưu Ngọc Ba. Sách do Nhà xuất bản Hòe Lý Đường in.

unnamed (2)Ở trang 2 của sách ghi: “Quang Tự Mậu Tuất Mạnh Thu” (Tháng 7, năm Mậu Tuất, niên hiệu Quang Tự, triều vua Đức Tông (Tải Điềm -1898). Cũng ngay ở trang 2 ghi: Thượng Hải Thư Cục Đại Ấn (Thư cục Thượng Hải được cho quyền in sách này). Bộ sách này được biên soạn vào năm thứ 28 (Kỷ Dậu, 1849), niên hiệu Đạo Quang, triều vua Thanh Tuyên Tông (Mân Ninh, 1821-1851).
Ở trang 3, 4 và trang 5 của sách có ghi bài tựa của Lưu Vận Kha, soạn vào năm Kỷ Dậu (1849), mùa hạ tháng 4 – triều vua Thanh Tuyên Tông, niên hiệu Đạo Quang. Bài tựa thứ 2 cũng viết vào năm Đạo Quang thứ 28, triều vua Thanh Tuyên Tông, do Bành Uẩn Chương soạn. Bộ sách này từ khi soạn (vào năm 1849, thời vua Thanh Tuyên Tông) phải mất 49 năm sau mới được in (vào năm 1898), triều vua Đức Tông (Nhà Thanh) – niên hiệu Quang Tự.
Bộ sách gồm nhiều tập. Chúng tôi chỉ chú tâm tới các tập 3, 4, 5 (vì 3 tập này đóng gộp thành 1 quyển) và có ghi các đảo thuộc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Xem tiếp
 
 Trời mưa tầm tã để đầu trần
Che ô phục vụ cũng không cần
Phê bình đồng chí phung phí sức
Nhỡ ốm làm sao phục vụ dân
 
Xem tiếp


bia vẫn trắngKết quả hình ảnh cho Nhà thơ Bùi Kim Anh

ai biết mộ anh ở đâu

đường mòn xưa đã từ lâu vắng người

núi không nói được thành lời

rừng không giữ được dấu nơi anh nằm

tuần nhang mẹ thắp đêm rằm

nỗi đau lằn vết tháng năm đợi chờ

trong lòng đất nắm xương khô

trong lòng mẹ một nấm mồ còn xanh

khẳng khiu cây bởi gẫy cành

ở đâu ai biết mộ anh bây giờ

trống không một khoảng bàn thờ

nghĩa trang phần mộ chơ vơ không người

bia vẫn trắng cỏ vẫn tươi

mẹ còng lưng suốt một đời nỗi đau

ai biết mộ anh ở đâu ?

Xem tiếp

Cao ThâmKết quả hình ảnh cho Thành phố dịu dàng

  

Tập thơ “Thành phố dịu dàng” của Nhà thơ Trần Nhuận Minh xuất bản năm 2015, gồm 48 bài đã được UBND tỉnh Quảng Ninh ra quyết định trao giải Nhất, Giải thưởng Văn nghệ Hạ Long lần thứ 8 ( 2010 – 2015) nhưng vấp phải ý kiến trái chiều của dư luận. Nhà thơ Trần Nhuận Minh đã xin rút khỏi giải thưởng này. Sau đó 4 ngày, Cục Xuất bản, In và Phát hành (Bộ Thông tin và truyền thông) đã ra văn bản gửi Nhà xuất bản Hội nhà văn, nguyên văn như sau :

“ Tập thơ là những hồi tưởng về quá khứ, miêu tả cuộc sống, con người, số phận con người với sự đôn hậu, chân thành, xen lẫn day dứt xót xa của tác giả. Tuy nhiên qua kiểm tra lưu chiểu, Cục phát hiện 2 bài thơ Lúc ấy, Những điều ấy, có cách viết chủ quan, không phù hợp. Do đó Cục đề nghị Nxb đình chỉ phát hành cuốn sách để chỉnh sửa 2 bài thơ nói trên.”

Như vậy đánh giá của Cục là toàn diện, chỉ đề nghị Nxb dừng phát hành để chỉnh sửa 2 bài thơ trong 48 bài của cả tập.

Báo Văn nghệ số 25 ra ngày 24/6/2017, đã đăng Thông báo của Thường trực Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa IX ( nhiệm 2015 – 2020) :

Xem tiếp
 
Ngọc Tô
 .

Tuần trước có thằng cháu ngoại đến nhà chơi, thấy tôi đang “buôn” về cuộc đời và sự nghiệp của nhà cách mạng tiền bối Nguyễn Văn Ngọ, cháu liền hỏi:

- Đố ông biết Đảng cộng sản Việt Nam thành lập vào năm nào?

- 1930. Tôi trả lời!

Thế thì ông sai rồi, tài liệu mới nhất (2016) ghi chính xác là năm 1932. Rồi

cháu đưa ra dẫn chứng bằng tờ lịch mồng 03 tháng 02 năm 2016. Ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam(1932). Thấy hay hay, dòng dưới lại ghi:

“Dối trá lừa lọc là hành động của kẻ ngu xuẩn không có đủ trí óc để trung thực” (Benjamin Frankmin).

Cháu bảo tôi cho mượn iphone và trong nháy mắt cháu liền cho tôi xem bách khoa toàn thư mở (google), ngoài ra còn một loạt lịch khác đều ghi ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam (1932), làm tôi tâm phục khẩu phục và dòng dưới còn ghi nhiều câu châm ngôn, ca dao “bất hủ” hơn như:

 

- Kẻ tiểu nhân đêm hôm xin xỏ, sáng ngày khoe khoang (Mạnh Tử)

- Chỉ có những thằng ngốc và người chết là chẳng bao giờ thay dổi ý kiến (S. Saplin)

- Nói lời phải giữ lấy lời. Đừng như con bướm đậu rồi lại bay (Ca dao)

- Dạ tràng xe cát biển đông. Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì (Ca dao)

- Mức ngu xuẩn thứ nhất là tự nhận mình thông minh, thứ 2 là phô bày điều đó, thứ 3 là xem thường lời khuyên góp ý (Benjamin Frankmin)…

 
Xem tiếp


Đặng Văn SinhKết quả hình ảnh cho vIẾT SỚ


Chu Văn An tên thật là Chu An, hiệu Tiều Ẩn, từng đỗ tiến sĩ, làm quan đến chức Tư nghiệp Quốc tử giám thời nhà Trần, được phong tước Văn Trinh công. Ông đã treo mũ từ quan về Chí Linh mở trường dạy học và làm thuốc sau khi dâng “Thất trảm sớ”, đòi chém bảy tên gian thần nhưng vua Trần Dụ Tông không nghe.

Về mặt giáo dục, Chu An là người thầy mẫu mực, một tín đồ trung thành của tư tưởng Khổng Mạnh, đã từng đào luyện hàng loạt các nhà khoa bảng ra làm quan với triều đình nhà Trần theo tôn chỉ “Tam cương, ngũ thường”. Sau khi Chu An qua đời, ông được vua Trần Nghệ Tông cho phối hưởng bên cạnh Khổng Tử tại Văn Miếu. Ở Chí Linh, học trò cũng lập đền thờ, ngôi nhà nhỏ của ông dưới chân núi Phượng Hoàng được gọi là “Tiều ẩn cổ bích”.

Việc Chu An được đề cao dưới chế độ phong kiến thực ra không có gì lạ, vì nó phù hợp với tâm thức cộng đồng vốn luôn có tư tưởng tôn sư trọng đạo (nho).

Xem tiếp
Bạn đọc khắp nơi trên thế giới truy cập vào trannhuong.com
Profile Visitor Map - Click to view visits
Click vào đây để xem chi tiết (Hình ảnh 5 phút cập nhật lại 1 lần)