Tranh Trần Nhương
BÀI VIẾT MỚI

Cu Làng Cát

 Có thể là hình ảnh về miệng núi lửa

"92% vi mạch tiên tiến thế giới nằm trong một hòn đảo

+Một hòn đảo rộng hơn 36.000 km² đang sản xuất 92% vi mạch tiên tiến của nhân loại. Từ iPhone, Nvidia H100 đến radar quân sự và máy chủ AI đều phụ thuộc vào những phòng sạch chạy suốt ngày đêm tại Đài Loan. Chỉ vài ngày động đất hay mất điện cũng đủ làm giá chip toàn cầu chao đảo, kéo theo thiệt hạ cả ngành công nghệ trị giá hàng chục nghìn tỷ đô la.

Mọi thiết bị hiện đại đều qua bàn tay hòn đảo nhỏ

+Mỗi buổi sáng, hàng trăm triệu người cầm điện thoại thông minh lên kiểm tra tin tức hay gọi video cho người thân. Mỗi chiếc máy bay dân dụng cất cánh, mỗi quả tên lửa dẫn đường chính xác bay qua bầu trời, mỗi vệ tinh truyền tín hiệu về Trái Đất, mỗi máy chủ dữ liệu chạy trí tuệ nhân tạo, mỗi thiết bị y tế cao cấp chẩn đoán bệnh tật, tất cả đều chứa một con vi mạch logic tiên tiến. Và hơn 92% số vi mạch ấy được sản xuất trên một hòn đảo duy nhất.

Xem tiếp
GS Nguyễn Đăng Mạnh
 (1930 - 2018)
 

Bài nghiên cứu văn học đầu tiên của tôi là bài viết về Nguyễn Hồng. Ấy là một chương trong giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945, viết chung giữa Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Sư phạm Vinh, xuất bản năm 1963.

Thỉnh thoảng tôi có gặp Nguyễn Hồng, thường ở trụ sở Hội nhà văn (65 – Nguyễn Du), đôi khi ở báo Văn Nghệ (17 Trần Quốc Toản). Nguyên Hồng cũng đến tôi mấy lần, khi ở nhà K2, khi ở nhà B2 khu tập thể cán bộ Đại học Sư phạm Hà Nội. Có lần ông ở cả ngày, ăn với gia đình tôi hai bữa cơm.

Trông bộ dạng Nguyễn Hồng, không ai nghĩ là một nhà văn. Mặt đen sạm, để râu dài. Áo cánh màu xanh chàm, bốn túi, mũ lá, dép lốp xỏ cả hai quai hậu, đi xe đạp thiếu nhi Liên Xô, mất cả chắn xích lẫn chẵn bùn, đèo đằng sau một bị cói vừa đựng tài liệu, vừa đựng một chai rượu cuốc lủi, kèm theo mấy thanh giang chẻ lạt.

Xem tiếp

Nguyen Ngoc Chu


1.

Luôn thay đổi tiến tới hoàn thiện là vận động tự nhiên của tạo hoá. Thực chất, đó là quá trình tối ưu hoá. Chẳng hạn như các hành tinh đều chuyển động theo quỹ đạo elip vì bảo toàn năng lượng, cho phép chuyển động ổn định với năng lượng tối thiểu cần thiết; hay như dòng chảy sông được hình thành do tìm đường đi sao cho nước chảy về nơi thấp hơn với nguồn lực ít nhất.

Tối ưu hoá, từ bản chất vận động của thiên nhiên, đã được con người vận dụng vào đời sống thực tiễn. Từ đường đi ngắn nhất đến nơi làm việc, làm sao cho bữa cơm ngon đủ dinh dưỡng với số tiền tối thiểu, hay làm thế nào để chi trả bao nhiêu khoản trong tháng với đồng lương ít ỏi – tất cả đều nằm trong toan tính mưu sinh hàng ngày của người lao động lam lũ. Lý thuyết tối ưu không xa vời. Nó hiển diện trong các hành động thường nhật, cày sâu các nếp nhăn trên khuôn mặt dân chúng cần lao.

Xem tiếp

 

 Văn Giá
 
 
 
“Chẳng có đỉnh núi nào cao hơn chóp vú người yêu” (PKB)


Vào quãng năm đầu thập kỷ chín mươi của thế kỷ trước, khi đang làm nghiên cứu sinh ở Đại học sư phạm Hà Nội, tôi thấy trong văn giới xôn xao bàn tán về một tài thơ rất lạ mới có 47 tuổi vừa mới khuất. Đó là nhà thơ Phùng Khắc Bắc, tác giả tập thơ duy nhất mang tên “Một chấm xanh” do Nxb QĐND phát hành cuối năm 1991.

Người ta ngạc nhiên vì mấy lẽ. Thứ nhất, những người trong văn giới, kể cả bạn bè thân thiết của Phùng Khắc Bắc hầu như rất ít người biết anh có làm thơ. Bởi, khi đang học khóa 2 Trường Viết văn Nguyễn Du, anh hầu như rất ít công bố thơ, đọc thơ. Rồi trong 10 năm cuối đời, lúc làm Chánh văn phòng Hội nhà văn Việt Nam cũng không mấy ai hay Phùng Khắc Bắc làm thơ. Trước đó, một số người cũng láng máng biết anh có viết truyện ngắn, đã từng được một cái giải nhỏ của Tạp chí Văn nghệ quân đội, nhưng cũng không thật nổi bật. Thứ hai, theo hồi ức của một số nhà văn cùng cơ quan hoặc cùng thời như Xuân Thiều, Nguyễn Thanh Kim, Nguyễn Đức Mậu và một số bạn văn khác, Phùng Khắc Bắc là người khiêm nhường, tính tình dụt dè, ngại tiếp xúc với đám đông, hầu như không tham gia các sinh hoạt thơ, không lên tiếng bàn bạc về thơ, có ai đó nhắc đến thơ của thời “nhà thơ trung đoàn” (những năm trong quân ngũ), anh thẹn thùng, mặc cảm, không muốn nói về.

Xem tiếp

 Lưu Trọng Văn

 Có thể là tác phẩm nghệ thuật
Kỉ niệm 115 ngày sinh nhà thơ Lưu Trọng Lư

Sáng qua tại Quang San Art, Sài Gòn bạn bè và người yêu thơ văn của cha gã tụ hội nhân 115 ngày sinh của cha gã.

Nguyễn Viện nói với Nguyễn Lương Thịnh, tôi mê bài thơ Vần thơ sầu rụng của Lưu Trọng Lư trước khi biết bài Tiếng thu. Lưu Trọng Lư chính là ông thầy dạy tôi… tán gái bằng thơ. Trần Mạnh Hảo say sưa nói về những gì Lưu Trọng Lư nâng niu, trân trọng từng câu thơ hay của lớp trẻ. Khi Hảo lâm nạn vì vụ án bài thơ Khóc Nguyên Hồng, bị quy kết, treo bút, chính tác giả Tiếng thu đã gặp ông Trường Chinh bảo vệ Hảo: Hảo làm cả ngàn bài thơ hay về đất nước tại sao chỉ vì một bài thơ có vấn đề lại treo bút? Ông Trường Chinh đã yêu cầu báo Nhân dân đăng thơ Hảo, vậy là án bị xoá.

Hoàng Hưng phát hiện ra cái đặc biệt của Tiếng thu là cả vần điệu, giai điệu đầy nhạc điệu như chỉ dồn vào chữ “đạp”- đạp trên lá vàng khô- gieo một sự thảng thốt một nỗi đau của mất mát- mất mát cái đẹp. Lý Đợi cho rằng thật bất công nếu không nói đến văn xuôi của Lưu Trọng Lư, theo Lý Đợi sẽ đến lúc các nhà phê bình phải đánh giá đúng vai trò của văn xuôi Lưu Trọng Lư như một hiện tượng đặc biệt cùng các giá trị hàng đầu của nền văn xuôi VN thời tiền chiến.

Xem tiếp
Trần Nhuận Minh
 
 


Chuyện này rất hi hữu. Nghĩa là theo tôi biết, ở nước ta, dường như mới chỉ xảy ra duy nhất có 1 lần ở vùng đất Quảng Ninh hiện nay mà thôi. Bài thơ khởi nguồn cho những sai lầm nghiêm trọng đó là bài "Phóng cuồng ca" của Tuệ Trung thượng sĩ (Trần Tung) thiền sư thời Trần, bản dịch của Hòa thượng Thích Thanh Từ, như sau:

“Trời đất liếc trông chừ sao thênh thang

Chống gậy rong chơi chừ phương ngoại phương.

Hoặc cao cao chừ mây đỉnh núi

Hoặc sâu sâu chừ nước trùng dương.

Đói thì ăn chừ cơm tùy ý

Mệt thì ngủ chừ nào có quê hương.

Hứng lên chừ thổi sáo không lỗ

Chỗ lặng chừ đốt giải thoát hương.

Nhọc chút chừ nghỉ đất hoan hỉ

Khát uống no chừ thang tiêu dao.

Qui Sơn láng giềng chừ chăn con trâu nước

Tạ Tam đồng thuyền chừ hát khúc Thương Lang.

Xem tiếp

  Nguyễn Nguyên

 
 
 
Cuối cùng tôi cũng đọc xong hệ sinh thái Trường ca Đỗ Quyên. Cảm nhận đọng lại bỗng trái ngược với lần đọc Quần-Đảo-Tráo-Tên*) - trường ca mới nhất, nhưng lại là trường ca đầu tiên tôi tiếp cận. Hóa ra nó không đến nỗi khó đọc, mà còn thú vị. Chỉ cần chạm được nhịp điệu sẽ thăng hoa cùng tri thức, cảm xúc quấn quýt như một câu lục bát để đời trong trường ca, thậm chí ở một chữ thơ Đỗ Quyên.

“Tại trang giấy trắng gọi hồn/bao nhiêu câu chữ cùng chôn cũng vừa.” (Tại sao thơ? - Thơ Thời gian)

Và lồ lộ ở đó một nghiệp thi nhân, một nghiệp người.

Nghiệp thi nhân 

Nghiệp thi nhân của Đỗ Quyên có gì? Có trường ca. Khó là ở chỗ trường ca có gì, muốn gì, ở đâu, về đâu.

Khát vọng trường - ca - thác

Sở hữu 18 trường ca trong khoảng thời gian từ 1997 - 2024, Đỗ Quyên đã tạo ra một hệ sinh thái trường ca đồ sộ nhất với tư cách một thi nhân văn chương Việt. Nhưng điều đáng nói đầu tiên là Đỗ Quyên dốc tâm làm mới quan niệm về trường ca.

Xem tiếp
 Phạm Văn Ba
 
 
     "VIỆC NHÂN NGHĨA CỐT Ở YÊN DÂN"
 
 
 
 
Cách đây gần sáu trăm năm, mở đầu Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Điều đáng suy ngẫm là đến hôm nay, câu nói ấy vẫn giữ nguyên giá trị như một thước đo đối với mọi việc trị quốc và an dân. “Nhân nghĩa” ở đây không chỉ là lòng tốt theo nghĩa đạo đức thông thường. Trong tư tưởng Nho giáo truyền thống, “nhân” là thương người, “nghĩa” là lẽ phải. Nhưng Nguyễn Trãi đã kéo khái niệm ấy ra khỏi sách vở kinh viện để đặt vào đời sống cụ thể của dân chúng. Ông không nói nhân nghĩa là trung quân, cũng không nói nhân nghĩa là những lời cao đạo, mà nói rất thẳng: cốt ở yên dân. “Yên dân” là để dân được sống yên ổn, không chiến tranh, không đói khổ, không bị áp bức, không bị xô dạt khỏi cuộc sống bình thường của mình.
Xem tiếp
Bạn đọc khắp nơi trên thế giới truy cập vào trannhuong.com
Profile Visitor Map - Click to view visits
Click vào đây để xem chi tiết (Hình ảnh 5 phút cập nhật lại 1 lần)