Trang chủ » Bầu bạn góp cổ phần

PHÙNG TÁ CHU QUA CON MẮT CÁC NHÀ SỬ HỌC

Đặng Văn Sinh
Thứ sáu ngày 16 tháng 12 năm 2016 6:29 AM



Kết quả hình ảnh cho Phùng Tá Chu

(Tham luận về danh nhân Phùng Tá Chu do UBND huyện Ba Vì, Hội Khoa học Lịch sử và Ban liên lạc họ Phùng Việt Nam phối hợp tổ chức ngày 10 tháng 12 năm 2016 tại Đền Cao, Ba Vì Hà Nội)


Phùng Tá Chu (馮佐朱)nhân vật tên tuổi trong lịch sử trung đại, vừa là nhà chính trị lỗi lạc dưới hai triều Lý – Trần, đồng thời cũng là một kiến trúc sư tầm cỡ, từng thiết kế và xây dựng nhiều công trình cung điện nổi tiếng, nhưng lịch sử lại ghi chép về ông quá sơ lược. Chẳng những thế, một số nhà sử học qua các triều đại phong kiến còn có những nhận xét thiếu công bằng, thậm chí chê bai khiến cho hậu thế nhận thức sai lệch về ông.

Các bộ sử từng ghi chép về Phùng Tá Chu mà chúng tôi tìm được theo thứ tự thời gian có thể kể đến như sau:


1-
Đại Việt sử lược, quyển III (khuyết danh)

Năm Tân Mùi (năm 1211- ND) là năm Kiến gia thứ nhất

Mùa xuân, tháng giêng vua lại sai người đi đón người con gái thứ hai của họTrần về. Nhưng Trần Tự Khánh không cho. Ngày Ký Sửu tuyển chọn các quan văn để cho làm Đô hộ phủ Sĩ sư. Ngày Quí Dậu lại đi đón người con gái thứ hai họ Trần. Trần Tự Khánh sai quan túc trực ở nội điện là Phùng Tá Chu cùng với viên tỳ tướng của y là Phan Lân. Nguyễn Ngạnh đưa người con gái ấy về kinh sư. Gặp lúc Tô Trung Từ cùng với Đỗ Quảng đánh nhau ở cửa Triêu Đông nên bọn Phùng Tá Chu phải đậu thuyền ở bến Đại thông.


Năm Bính Tý (năm 1216- ND) là năm Kiến gia thứ 6

Ngày Canh Tuất, Trần Tự Khánh dựng điện cỏ ở Tây Phù Liệt, khuôn mẫu của điện nhất nhất đều bắt chước theo như ở trong đại nội. Hiển Tín Vương là Nguyễn Bát đầu hàng. Nhà vua hạ chiếu cho quan Minh tự Phùng Tá Chu làm Chiêu thảo sứ. (…)

Mùa đông, tháng chạp tiến phong cho Thái Tổ (Trần Thừa) ta tước Liệt hầu, Phùng Tá Chu và Lại Linh đều được phong tước Quan nội hầu. Dùng Trần Tự Khánh làm Thái úy, những lúc triều bái nhà vua thì không phải xưng tên.


Năm Giáp Thân (1224- ND) là năm Kiến Gia thứ 14

Mùa xuân, tháng giêng, ngày Đinh Tỵ an tang Kiến Quốc Vương ở Mỹ Lộc.

Mùa xuân, năm ấy cho Thái Tổ (Trần Thừa) làm Phụ quốc Thái úy, Phùng Tá Chulàm Nội thị Phán Thủ, cất cử quan Thượng phẩm hầu là Trần Báo làm tước Vương và thụy hiệu là Hiển Thành.

Năm Ất Dậu (năm 1225- ND) là năm Kiến Gia thứ15

Chiêu Thánh lên ngôi lấy thụy hiệu là Chiêu Vương, tôn vua Huệ Tông làm Thái Thượng Vương, đổi niên hiệu là Thiên Chương Hữu Đạo.

(…)

Mùa đông, tháng 11, Thái Thượng Vương thấy nữ Vương còn nhỏ, lấy làm lo âu mới cho mời Phùng Tá Chu đến mà định mưu nói rằng: "Trẫm vì không có đức, Trẫm mắc tội với trời, cho nên bị tuyệt hậu, không có con để nối dõi. Nay Trẫm truyền ngôi cho con gái, nhưng thấy một người đàn bà mà khiến bảo đám đàn ông, như có điều là bọn chúng không giúp cho, tất đến lúc hối hận lại thì cơ nghiệp đã mất rồi. Chi bằng Trẫm theo cái phép thuở xa xưa của Đường Nghiêu, cái thể thức gần đây là Nhân Tổ, để kén chọn người hiền mà trao ngôi cho. Nay có điều Trẫm thấy là mỗ…người con thứ hai của Thái úy (Trần Thừa) tuổi hãy còn nhỏ mà tướng mạo khác thường, tất có thể giúp đời, yên dân. Cho nên, Trẫm muốn dùng làm con mà làm chủ cơ nghiệp nước nhà. Vả lại, Trẫm thấy Chiêu Vương cũng xứng đôi với mỗ. Các khanh hãy vì Trẫm mà nói với quan Thái úy rõ".

(…)

Mùa thu, tháng chạp nhà vua sai quan Nội thị phán thủ Phùng Tá Chu, quan Nội hành khiển Tả ty Lang trung là Trần Chí Hoành, các tướng văn võ trong ngoài và các viên quan lại hãy quản lãnh thuyền rồng, chuẩn bị pháp giá đến phủ Cương Tinh mà đón Thái Tổ ta (Trần Thừa).


2-
Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỷ, quyển IV)

Kỷ Nhà Lý

Huệ Tông Hoàng Đế

Tân Mùi, [Kiến Gia] năm thứ 1 [1211], (Tống Gia Định năm thứ 4). Mùa xuân, tháng giêng, đổi niên hiệu.

Tháng 2, vua lại sai Phụng ngự là Phạm Bố đi đón Trần thị. Tự Khánh bèn sai bọn Phùng Tá Chu đưa Trần thị đi. Gặp khi Tô Trung Từ và Đỗ Quảng đang đánh nhau ở [bến] Triều Đông, Tá Chu bèn đỗ thuyền ở bến Đại Thông. Đến khi Đỗ Quang bị thua, vua sai Bố và Trung Từ đón Trần thị vào cung, lập làm nguyên phi; cho Trung Từ làm Thái uý phụ chính; phong Thuận Lưu bá Trần Tự Khánh làm Chương Thành hầu.

Giáp Thân, [Kiến Gia] năm thứ 14 [1224], (Từ tháng 10 về sau là niên hiệu cuả Chiêu Hoàng Thiên Chương Hữu Đạo năm thứ 1; Tống Gia Định năm thứ 17). Mùa đông, tháng 10, xuống chiếu lập công chúa Chiêu Thánh làm Hoàng thái tử để truyền ngôi cho. Vua xuất gia ở chùa Chân Giáo trong đại nội. Chiêu Thánh lên ngôi, đổi niên hiệu là Thiên Chương Hữu Đạo năm thứ 1, tôn hiệu là Chiêu [32a] Hoàng.

Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Đạo trời có khi thường có khi biến. Thánh nhân phối với trời đất, giúp việc hoá dục thì có đạo xử trí lúc biến mà vẫn không mất phép thường. Như Đan Chu con vua Nghêu là kẻ bất tiếu1, thì vua Nghêu tiến vua Thuấn với trời, mà thiên hạ thịnh trị. Thương Quân con vua Thuấn là kẻ bất tiếu không thể truyền ngôi, thì vua Thuấn tiến vua Vũ với trời, mà xã tắc được yên, đều là xử trí lúc biến mà không mất phép thường cả. Đời sau chỉ truyền ngôi cho con mà không truyền ngôi cho người hiền, vì là không có người nào được như Thuấn và Vũ. Nếu không may mà không có con thì chọn con của người tông thất nuôi làm con mình để nối giữ nghiệp lớn, đó cũng là một cách xử trí trong lúc biến vậy. Lý Nhân Tông đã làm như thế rồi, Huệ Tông sao không xét việc cũ mà làm theo, lại để [32b] đến sau lúc tật bệnh mới lập con gái mà truyền ngôi cho, thế có phải lẽ không? Các quan bấy giờ không ai nghĩ gì đến xã tắc, để cho Phùng Tá Chu viện dẫn việc Lữ hậu và Vũ hậu làm cớ mà thành ra việc Chiêu Hoàng nhường ngôi cho họ Trần, ấy là người có tội với họ Lý.

Quyển V

Kỷ Nhà Trần

Thái Tông Hoàng Đế

Bính Tuất, Kiến Trung năm thứ 2 [ 1226], (Tống Bảo Khánh năm thứ 2) (từ tháng 10 đến tháng 12)

Sai Phụ quốc Thái phó Phùng Tá Chu quyền Tri phủ Nghệ An, cho phép ban tước từ tá chức, xá nhân trở xuống cho người khác, rồi sau về triều tâu lên.

Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Ban tước cho người là quyễn của thiên tử, không phải là quyền của kẻ làm tôi [4a]. Phùng Tá Chu là bề tôi cũ triều Lý, không có việc cần phải chuyên quyễn như ra ngoài cương giới, làm lợi cho quốc gia, vỗ yên trăm họ, mà lại cho phép chuyên quyền thì cả người cho phép đều sai cả.

Bễ tôi nhà Trần mà biết đạo ấy, phải chăng chỉ có Quốc công Hưng Đạo Đại Vương. Thánh Tông vì thấy ông có công lao to lớn, cho phép được tự tiện phong tước cho người, nhưng chưa bao giờ ông phong cho một ai cả. Giữa lúc giặc Hỗ vào cướp, cầm quân chuyên chế, lấy thóc của người giàu để cấp lương quân, nhưng cũng chỉ cho người đó làm giả Lang tướng mà không dám cho làm Lang tướng thực.

Quý Tỵ,Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 2 [1233], (Tống Thiệu Định năm thứ 6), sai Phùng Tá Chu duyệt định các ấp lớn phủ Nghệ An.

Giáp Ngọ, [Thiên Ứng Chính Bình] năm thứ 3 [1234], (Tống Đoan Bình năm thứ 1) Gia phong thái phó triều Lý là Phùng Tá Chu làm Hưng Nhân vương; Quan nội hầu Phạm Kính Ân làm Thái phó, tước Bảo Trung quan nội hầu.

Ất Mùi, [Thiên Ứng Chính Bình] năm thứ 4 [1236], (Tống Đoan Bình năm thứ 2). [9b] Gia phong Hưng Nhân vương Phùng Tá Chu làm Đại Vương; Quan nội hầu Phạm Kính Ân làm Thái úy, ban cho mũ áo đại vương.

Kỷ Hợi, [Thiên Ứng Chính Bình] năm thứ 8 [1239], (Tống Gia Hy năm thứ 3). Mùa xuân, tháng giêng, lại cho Phùng Tá Chu chức Nhập nội thái phó. Sai [Chu] về hương Tức Mặc xây dựng nhà cửa, cung điện.

Canh Tý, [Thiên Ứng Chính Bình] năm thứ 9 [1240], (Tống Gia Hy năm thứ 4). Mùa xuân, tháng giêng, sai Phùng Tá Chu dựng 5 sở hành cung ở phủ Thanh Hoá.

Tân Sửu, [Thiên Ứng Chính Bình] năm thứ 10 [1241], (Tống Thuần Hựu năm thứ 1) Phùng Tá Chu mất.

Giáp Thìn, [Thiên Ưng Chính Bình] năm thứ 13 [1244], (Tống Thuần Hựu năm thứ 4).

(…)

Tháng 3, cho Phùng Tá Khang, cha Phùng Tá Chu, làm tả nhai đạo lục, tước Tả Lang.


3
- Việt sử tiêu án của Ngô Thì sỹ

Kỷ Nhà Trần

Thái Tông hoàng đế

Vua phong cho Phùng Tá Chu là Hưng Nhân Vương, Phạm Kính Ân làm quan Nội hầu. Hai người này đều là cựu thần nhà Lý, nhất đán đổi chủ, cam làm ưng khuyển, ý tất lũ ấy đều là thân thuộc họ ngoại nhà Trần, cũng là một phường với Trung Từ, Tự Khánh, cho nên thủy chung vẫn được tin yêu, ân thưởng hơn người khác. Nhà Lý mất, nhà Trần lên, vẫn là sở nguyện của những kẻ ấy, đâu còn đem lễ nhượng mà trách kẻ ăn trộm bao giờ?


4- Khâm định Việt sử thông giám – Quốc sử quán triều Nguyễn

(Chính biên quyển 6)

Quý Tỵ, năm thứ 2 (1233). (Tống, năm Thiệu Định thứ 6). Sai Phùng Tá Chu xét định các hạng danh sắc ở Nghệ An.

Giáp Ngọ, năm thứ 3 (1234). (Tống, năm Đoan Bình thứ 1). Tháng giêng, mùa xuân. Thượng hoàng mất.

(…)

Phong cho Phùng Tá Chu tước Hưng Nhân vương và bổ dụng Phạm Kính Ân làm Thái phó, phong tước là Bảo Trung hầu.

Triều nhà Lý, Tá Chu làm Thái phó, Kính Ân tước Quan nội hầu. Khi nhà vua được Chiêu hoàng truyền ngôi cho, hai người này có công suy tôn giúp đỡ, nên nay mới được phong tước. Sau này lại gia phong Tá Chu làm Đại vương, Kính Ân làm Thái uý và ban cho mũ áo Đại vương.

Kỷ Hợi, năm thứ 8 (1239). (Tống, năm Gia Hy thứ 3). Tháng giêng, mùa xuân. Dựng cung điện ở làng Tức Mặc.

Nhà vua nghĩ Tức Mặc là nơi làng cũ của mình, nên hạ lệnh cho Phùng Tá Chu làm quan Nhập nội thái phó, dựng hành cung ở đấy để thời thường đến chơi thăm.

Canh Tý, năm thứ 9 (1240). (Tống, năm Gia Hy thứ 4). Tháng giêng, mùa xuân. Dựng hành cung1 ở Thanh Hóa. Việc này giao cho Phùng Tá Chu đứng làm. Xây dựng tất cả năm sở.

Về mặt sử liệu, cho đến nay, ngoài những ghi chép ít ỏi trong chính sử, các nhà nghiên cứu không có thêm bất cứ tư liệu nào về Phùng Tá Chu, bao gồm cả những ghi chép về ông của dòng họ Phùng ở ấp Mỹ Xá, huyện Hưng Nhân (nay là Hưng Hà), tỉnh Thái Bình hay phủ Phụng Thiên (nay là làng Quảng Bá, quận Tây Hồ, Hà Nội).

Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này, trước hết phải kể đến chủ trương tận diệt văn hóa Đại Việt của các triều đại phong kiến phương Bắc qua các cuộc xâm lược nước ta mà điển hình là Minh Thành tổ Chu Đệ hay còn gọi là Minh Vĩnh Lạc (1360-1424). Cách thức hủy diệt văn hóa của người Hán là cực kỳ dã man và thâm hiểm. Có thể nói, đối với chúng, từ những thư tịch quý hiếm trong văn khố triều đình cho đến tàng thư ở các đạo, thừa tuyên hay trấn, phủ, huyện đều được tận thu mang về chính quốc, những thứ không vận chuyển được như đình, chùa, đền, miếu, bia đá… thì chúng đập phá hoặc làm biến dạng. Chính vì thế, cho đến nay, chẳng những lịch sử mà ngay cả văn hóa người Việt vẫn còn những khoảng trống không gì có thể bù đắp bởi tội ác của chủ nghĩa Đại Hán.

Nguyên nhân thứ hai cũng không kém phần quan trọng, đó là sự kỳ thị của các sử gia bị hệ ý thức nho giáo chi phối, họ không vượt qua được tư tưởng “trung thần bất sự nhị quân” (忠臣不事二君), nghĩa là trung thần không thờ hai vua, được xem như tiêu chuẩn quan trọng của kẻ sĩ quân tử trước vương triều phong kiến.

Hệ ý thức phong kiến cổ hủ, giáo điều, lạc hậu mà các nhà lập thuyết khởi xướng từ mấy ngàn năm trước như Khổng Tư, Mạnh Tử, Tăng Tử, được các thế hệ nho sĩ tiếp thu một cách thụ động, coi như “thiên kinh địa nghĩa” nhằm mục đích giáo dục con người, biến con người thành công cụ máy móc chỉ biết phục tùng mà triệt tiêu khả năng phản biện. Đó là một xã hội khép kín, lấy đạo Tam cương, Ngũ thường mà cốt lõi là mối quan hệ quân thần, phụ tử để cai trị thiên hạ. Trong các mối quan hệ bất bình đẳng ấy, vua được coi là con trời (thiên tử), tuyệt đối quyền uy (cho dù đó là loại “vua lợn” như Lê Uy Mục, Lê Tương Dực), được Khổng Khâu cụ thể hóa bằng mệnh đề cực kỳ phản động mà bất cứ nhà nho nào cũng thuộc nằm lòng: “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung; phụ xử từ vong, tử bất vong bất hiếu” (君處臣死臣不死不忠,父處子亡子不亡不孝), nghĩa là, vua bắt bề tôi chết, bề tôi không chết là bất trung; cha bắt con chêt, con không chết là bất hiếu).

Khổng Tử còn đi xa hơn nữa khi ông đưa ra nguyên tắc bất biến đối với giới nho sĩ trong cách xuất xử: “Nguy bang bất nhập, loan bang bất cư, thiên hạ hữu đạo tắc hiện, thiên hạ vô đạo tắc ẩn”(危邦不入亂邦不居. 天下有道則見,無道則隱), nghĩa là, nước đang gặp nguy hiểm không nên vào, nước đang có loạn không nên ở, thiên hạ có đạo thì ra (làm quan), thiên hạ vô đạo thì (về) ở ẩn. Nguyên tắc này, thậm chí còn chi phối đến cả thiền sư Đinh La Quý, vốn là một vị tổ của thiền phái Tỳ ni đa lưu chi khi ngài có lời kệ dặn lại đệ tử trước khi viên tịch: “Trị minh vương tắc xuất, ngộ ám chúa tắc tàng” (值明王則出遇暗主則藏藏), nghĩa là, gặp vua sáng thì ra, thấy chúa tối thì ở ẩn.

Như vậy, chúng ta có thể thấy, học thuyết của Khổng Tử, ngoài tính giáo điều, tư biện, ông còn truyền cảm hứng cho đám hậu sinh thói lười biếng, ích kỷ, cơ hội và cầu toàn. Đây chính là những nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ của xã hội với vô vàn khuyết tật mà hệ lụy của nó còn kéo dài đến tận ngày hôm nay, cho dù chúng ta đang sống dưới một thể thể chế chính trị được nhìn nhận là tiến bộ hơn hẳn.

Trở lại vấn đề sử liệu ghi chép về Phùng Tá Chu, trong 4 bộ sử mà chúng tôi trích dẫn thì cả Ngô Sỹ Liên trong “Đại Việt sử ký toàn thư” và Ngô Thì Sỹ trong “Việt sử tiêu án” đều có lời bình. Cả hai lời bình đều mang nặng tính hủ nho, thiển cận mà không đánh giá đúng tầm quan trọng của Phùng Tá Chu và Tô Trung Từ trong cuộc chuyển giao quyền lực một cách êm thấm từ vương triều Lý suy tàn sang vương triều Trần đang lên với hào khí Đông A rực rỡ. Rõ ràng mang nặng sự kỳ thị với tư tưởng cấp tiến của Phùng Tá Chu, nhưng Ngô Sỹ Liên cũng không thể phủ nhận vai trò tham mưu của ông trong việc giúp nhà Trần đoạt được thiên hạ. Có lẽ là một sử gia, buộc phải đưa các nhân vật quan trọng vào quốc sử, nên họ Ngô đã ghi chép rất sơ lược, đồng thời lại kèm theo lời bình thiếu công tâm nhằm hạ thấp vai trò của ngài Thái phó tiền nhiệm triều Trần chăng? Còn Ngô Thì Sỹ thì hằn học gọi Phùng Tá Chu và Phạm Kính Ân là “nhất đán đổi chủ, cam làm ưng khuyển, ý tất cả lũ ấy đều là thân thuộc họ ngoại nhà Trần…” liệu có đúng với sự chân thực lịch sử?

Biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sỹ Liên đã viết 172 lời bình, trong số đó có những lời bình xem ra rất phù hợp với chủ thuyết nho giáo nhưng lại vô cùng thiếu đạo lý, thiếu tình người, thậm chí bất lương như đoạn nói về cái chết của Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ trong vụ thảm án Lệ Chi Viên. Hơn nữa, sau khi soạn sách xong, Ngô Sỹ Liên tuy là Triều liệt đại phu, Quốc tử giám Tư nghiệp, kiêm Sử quan tu soạn, nhưng vẫn phải làm biểu dâng lên để vua Lê Thánh Tông phê duyệt. Như vậy chính Lê Thánh Tông đã làm trái với quy định là vua đương thời không được xem quốc sử. Điều này, Đại Việt sử ký toàn thư, phần Bản kỷ, quyển XI, Thánh Tông Thuần hoàng đế, đã chép: “Vua muốn xem quốc sử, sai nội quan tới Hàn lâm viện dụ riêng sử quan Lê Nghĩa rằng: ‘Trứơc kia, Phòng Huyền Linh làm sử quan, Đường Thái Tông muốn xem Thực lục, Huyền Linh không cho xem. Nay ngươi với Huyền Linh thì ai hơn?’. Nghĩa trả lời: ‘Sự kiện ở cửa Huyền Vũ, Huyền Linh lại không thẳng thắn ghi lại, Đường Thái Tông phải bảo ghi rồi sau mới ghi, như thế e rằng cũng chưa phải là hiền thần’. Nội quan nói: ‘Vua muốn xem ghi chép hằng ngày từ năm Quang Thuận thứ 1 đến năm thứ 8’. Nghĩa trả lời: ‘Vua mà xem quốc sử, hẳn không phải là việc hay. Những việc làm của Đường Thái Tông và Phòng Huyền Linh đã bị đời sau chê bai đấy!’. Nội quan nói: ‘Vua bảo là xem những ghi chép hằng ngày để biết trước có lỗi gì còn có thể sửa được’. Nghĩa nói: ‘Chỉ cần bệ hạ gắng làm điều hay thôi, việc gì phải xem quốc sử’. Nội quan dụ bảo nhiều lần, Nghĩa nói: ‘Thánh chúa nếu biết sửa bỏ lỗi lầm thì đó là phúc lớn vô hạn của xã tắc, [39a] thế dẫu không khuyên can mà cũng không là khuyên can’. Rồi dâng những ghi chép hằng ngày lên. Vua xem xong trả lại cho Sử viện”.(Trang 39 b, quyển XI). Đọc câu cuối cùng “Vua xem xong trả lại cho Sử viện”, không ít người sẽ đặt câu hỏi, Lê Thánh Tông có thái độ như thế nào khi đọc được những điều sử quan chỉ trích mình? Và liệu Lê Nghĩa có viết đúng sự thật về việc ông vua vi phạm quy chế?

Từ sự kiện trên, có thể nói, ngoài những chi tiết sao chép lại từ “Đại Việt sử ký” của Lê Văn Hưu (hiện văn bản gốc đã thất lạc), người đời sau có quyền hoài nghi về độ tin cậy của những phần Ngô Sỹ Liên viết về nhà Lê. Hơn thế nữa, tư cách của vị sử quan này đã được chính Lê Thánh Tông nhận xét xem ra không có gì là tốt đẹp: “Vua dụ bảo Đô ngự sử đài là bọn Ngô Sĩ Liên và Nghiên Nhân Thọ rằng:Ta mới coi chính sự, sửa mới đức độ, tuân theo điển cũ của thánh tổ thần tông, nên mới tế giao vào đầu mùa xuân. Các ngươi lại bảo tổ tông tế giao cũng không đáng theo!. [8b] Các ngươi bảo nước ta đời xưa là hàng phiên bang, thế là các ngươi theo đạo chết, mang lòng không vua. Vả lại, khi Lệ Đức hầu cướp ngôi,Ngô Sĩ Liên chẳng vì hắn trổ tài phong hiến đó sao? Ưu đãi trọng lắm! Nhân Thọ không vì hắn trù hoạch nơi màn trướng đó ư? Ngôi chức cao lắm! Nay Lệ Đức hầu mất nước về tay ta, các ngươi không biết vì ăn lộc mà chết theo hắn lại đi thờ ta. Nếu không nói ra, trong lòng các ngươi không tự hổ thẹn mà chết ư? Thực là bọn gian thần bán nước!” (Trang 8b, quyển XI).

(…)

“Mùa thu, tháng 7, ban cho Anh Vũ, con Nguyễn Đình Mỹ. Vua dụ rằng:

Đồ dùng thì chuộng thứ mới, dùng người thì nên dùng người cũ. Nho thần tuổi già như bọn các ngươi còn mấy nguời đâu, mà ngươi phạm tội cũng là sau vụphạm tội của Ngô Sĩ Liên và Nguyễn Thiện thôi. Pháp ty giữ công bằng, theo luật, phải giáng bãi, nhưng ta thì tiếc tài ngươi, sai đổi thành lệnh biếm chức. Pháp luật là phép công của nhà nước, ta cùng các ngươi đều phải theo, ngươi nên nhớ lấy".(Trang 16b, quyển XI).

Như vậy, xét về mặt lịch sử, cho dù vẫn còn những sử gia khư khư giữ quan điểm chính thống, phê phán việc “sự nhị quân” của Phùng Tá Chu, nhưng họ vẫn phải ghi nhận công lao của ông trong chính sử như là một trọng thần góp phần chuyển giao chính quyền từ tay nhà Lý sang nhà Trần bằng biện pháp hòa bình, tránh cho bách tính Đại Việt một cuộc nội chiến. Ngoài tài năng chính trị, Phùng Tá Chu còn là công trình sư tài năng, để lại dấu ấn trong việc xây dựng nhiều cung điện nhà Lý và nhà Trần. Lúc ra làm quan địa phương, Phùng Tá Chu biết cách vỗ yên trăm họ, khoan sức dân, thưởng phạt phân minh, khi về triều, được vua Trần sủng ái, phong tước Đại vương, chức Nhập nội Thái phó.

Chí Linh, 30.8.2016

Đ.V.S.
Ảnh: Phần mộ Phùng Tá Chu tại Tây Đằng, Ba Vì, Hà Nội