Tính đến cuối tháng 8/2026, tất cả 34 tỉnh thành trên toàn quốc đã hoàn thành phương án sắp xếp, giảm số lượng cơ sở giáo dục công lập toàn quốc từ 37 530 trường xuống còn 18 555 trường (giảm 50,6%). Hơn 28 200 cán bộ quản lý (hiệu trưởng, hiệu phó) được điều chuyển sang công tác giảng dạy trực tiếp [1]. Đây là nỗ lực trông thấy trong tinh gọn bộ máy.
Tuy nhiên việc sáp nhập cơ học đồng loạt đã làm xuất hiện 5 749 trường quy mô lớn và cực lớn (theo định nghĩa của Bộ GD&ĐT: Trường Mầm non hơn 30 lớp, Tiểu học hơn 40 lớp, THCS hơn 45 lớp) với số lượng học sinh từ 1 200 – 4 500 học sinh. Trong đó có 114 "Siêu trường" đặc biệt lớn có trên 100 lớp học (từ 4.500 đến hơn 10.000 học sinh) tập trung tại 17 tỉnh, thành phố. Kỷ lục là Trường Tiểu học Nha Trang (Khánh Hòa) sáp nhập từ 13 trường cũ, đạt quy mô 287 lớp với hơn 10 500 học sinh [1].
Việc sáp nhập này đưa đến giảm biên chế lãnh đạo, chuyển 28 200 cán bộ quản lý sang giảng dạy là mặt tích cực trông thấy. Nhưng trên thực tế chiến lược sáp nhập này có làm giảm chi phí trên đầu học sinh như mục tiêu của bài toán kinh tế? Quan trọng nữa, nó có đưa đến sự gia tăng chất lượng giáo dục – là mục đích tối thượng của nền giáo dục mọi quốc gia?
1. NHÌN RA QUỐC TẾ
Xin tham khảo bảng thống kê vắn tắt sau đây tại 6 cường quốc Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Nhật Bản và Trung Quốc về bậc giáo dục bắt buộc (Tiểu học - Primary/Elementary và Trung học cơ sở - Lower Secondary/Middle School) theo các tiêu chí: quy mô học sinh của trường, sĩ số trung bình lớp, tỷ lệ học sinh/giáo viên, mô hình quản lý, học phí và giám sát chất lượng
MỸ
- Quy mô trường: Tiểu học: 400 - 600 HS | THCS: 600 – 1 000 HS.
- Sĩ số lớp: 20 - 23 học sinh/lớp.
- Tỷ lệ HS/Giáo viên: 14:1 đến 15:1.
- Mô hình quản lý: Quyền tự chủ tối đa thuộc về Hội đồng Giáo dục địa phương (School District). Bang đưa ra khung tiêu chuẩn chất lượng. Ở cấp THCS, học sinh bắt đầu chuyển đổi học theo phòng bộ môn thay vì ngồi cố định một lớp.
- Học phí: Miễn phí hoàn toàn trường công lập.
- Giám sát chất lượng: Kiểm tra tiêu chuẩn hóa hàng năm (Standardized tests) theo quy định của từng bang; đánh giá định kỳ để xếp hạng trường.
ANH
- Quy mô trường: Tiểu học: 200 - 400 HS | THCS: 800 – 1 200 HS.
- Sĩ số lớp: 25 - 28 học sinh/lớp.
- Tỷ lệ HS/Giáo viên: 16:1 đến 17:1.
- Mô hình quản lý: Mô hình Liên đoàn/Chuỗi trường. Các trường gộp nhóm để quản lý hành chính và tối ưu ngân sách chung nhưng giữ độc lập chuyên môn tại chỗ.
- Học phí: Miễn phí hoàn toàn trường công lập.
- Giám sát chất lượng: Cục Kiểm định Giáo dục thanh tra độc lập các trường và thực hiện giám sát toàn diện theo chuỗi hệ thống; công khai báo cáo chất lượng cho phụ huynh.
ĐỨC
- Quy mô trường: Tiểu học: 200 - 300 HS | THCS: 300 - 700 HS.
- Sĩ số lớp: 20 - 23 học sinh/lớp.
- ỷ lệ HS/Giáo viên: 12:1 đến 13:1.
- Mô hình quản lý: Quản lý bởi chính quyền 16 Bang. Giáo dục Đức phân tách luồng học sớm từ cấp THCS dựa trên năng lực (vào các nhánh chuyên sâu hoặc định hướng nghề), dù xu hướng hiện nay đang tăng dần các trường tích hợp để giảm áp lực chọn trường sớm.
- Học phí: Miễn phí hoàn toàn trường công lập.
- Giám sát chất lượng: Đánh giá nội bộ của Bộ Giáo dục từng Bang; không có kỳ thi quốc gia áp lực ở cấp học này mà chủ yếu đánh giá qua học bạ định kỳ.
PHÁP
- Quy mô trường: Tiểu học: 150 - 300 HS | THCS: 350 - 600 HS.
- Sĩ số lớp: 21 - 24 học sinh/lớp.
- Tỷ lệ HS/Giáo viên: 13:1 đến 14:1.
- Mô hình quản lý: Tập quyền trung ương chặt chẽ. Bộ Giáo dục Quốc gia quy định chi tiết từ chương trình khung, sách giáo khoa đến giờ giấc sinh hoạt trên toàn quốc.
- Học phí: Miễn phí hoàn toàn trường công lập.
- Giám sát chất lượng: Kỳ thi kiểm tra quốc gia cuối cấp THCS và hệ thống Thanh tra Giáo dục vùng giám sát chặt chẽ năng lực chuyên môn của giáo viên.
NHẬT BẢN
- Quy mô trường: Tiểu học: 300 - 500 HS | THCS: 300 - 700 HS.
- Sĩ số lớp: 27 - 32 học sinh/lớp.
- Tỷ lệ HS/Giáo viên: 15:1 đến 16:1.
- Mô hình quản lý: Vận hành theo mô hình Hội đồng Giáo dục địa phương. Điểm đặc biệt là giáo viên là công chức và bắt buộc phải luân chuyển trường định kỳ 3-5 năm để cân bằng chất lượng vùng miền.
- Học phí: Miễn phí học phí và sách giáo khoa tại các trường công lập.
- Giám sát chất lượng: Đánh giá diện rộng qua Kỳ thi khảo sát chất lượng quốc gia hàng năm; kết hợp cơ chế giám sát chéo chặt chẽ giữa nhà trường và Hội phụ huynh.
TRUNG QUỐC
- Quy mô trường: Tiểu học: 800 - 1.500 HS | THCS: 1 000 – 2 000 HS.
- Sĩ số lớp: 38 - 45 học sinh/lớp.
- Tỷ lệ HS/Giáo viên: 16:1 đến 18:1.
- Mô hình quản lý: Quản lý phân cấp hành chính nghiêm ngặt. Áp dụng mạnh mẽ mô hình "Trường theo cụm" (trường mạnh liên kết kéo trường yếu) để thu hẹp khoảng cách chất lượng.
- Học phí: Miễn phí học phí theo Chính sách giáo dục bắt buộc 9 năm.
- Giám sát chất lượng: Áp lực giám sát cực lớn thông qua tỷ lệ đỗ vào THPT Công lập/Chuyên (kỳ thi Zhongkao). Quản lý nề nếp và kết quả học tập học sinh được số hóa mạnh mẽ (tại các đô thị lớn qua các hệ thống trường học thông minh thí điểm).
Lưu ý: Các số liệu về sĩ số và quy mô mang tính chất trung bình (dựa trên các báo cáo tổng hợp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và Bộ Giáo dục các nước), thực tế có sự dao động nhỏ tùy thuộc theo từng bang, khu vực nội đô hay nông thôn.
Như vậy, có thể nhận thấy những điểm quan trọng sau đây.
- Giới hạn quy mô không quá 1 200 học sinh: Ngoại trừ Trung Quốc (do áp lực dân số đô thị quá lớn), tất cả các cường quốc giáo dục phương Tây và Nhật Bản đều chủ động giới hạn quy mô một trường học dưới 1 200 học sinh (thậm chí cấp tiểu học chỉ từ 200 - 500 em). Điều này giúp cho Ban giám hiệu có thể gọi tên, biết mặt và sâu sát đến từng học sinh.
- Tách rời quản lý hành chính khỏi trường học: Tại Mỹ, Anh hay Pháp, các trường học không phải tự lo dòng tiền, đấu thầu xây dựng hay chấm lương. Tất cả được thực hiện bởi các Hội đồng giáo dục khu vực (School Districts/MATs) bằng phần mềm tập trung. Hiệu trưởng tại trường thuần túy là một "Tướng chuyên môn" lo việc dạy học.
- Giám sát độc lập thay vì báo cáo thành tích: Anh dùng Ofsted (cơ quan độc lập không thuộc Bộ), Pháp dùng Thanh tra vùng, Mỹ dùng dữ liệu điểm số độc lập. Họ không dựa vào báo cáo tự chấm điểm của trường để đánh giá tốt hay xấu, từ đó triệt tiêu được bệnh thành tích giả tạo.
Một cách vắn tắt: Trường quy mô nhỏ để dễ sâu sát; Hiệu trưởng tập trung chuyên môn không lo hậu cần; Chất lượng được đánh giá bởi bên thứ ba độc lập - là 3 định hướng xuyên suốt.
2. MỘT SỐ LUẬN CỨ KHOA HỌC CẦN LƯU Ý
Không phải cứ sáp nhập trường, giảm biên chế là giảm được chi phí chia theo đầu học sinh. Sau đây là một số luận cứ khoa học cần được cân nhắc kỹ trong quá trình sáp nhập trường.
2.1. NHẬP TRƯỜNG Ở PHẠM VI NÀO THÌ CÓ THỂ GIẢM CHI PHÍ?
Một trong những mục đích quan trọng của nhập trường là giảm nhân sự, giảm chi phí trên đầu mỗi học sinh. Nhưng giáo dục là một ngành dịch vụ “thâm dụng lao động” (cần tỷ phần lao động cao), không như áp dụng dây chuyền sản xuất công nghiệp để có thể giảm nhân công. Nghiên cứu chi phí của Andrews và các cộng sự [2] thể hiện đường cong chi phí trung bình trong giáo dục là hàm parabol ngược - có hình chữ U. Khi trường học phình to quá mức cho phép, các chi phí ẩn về mặt điều phối, hệ thống liên lạc, rủi ro an ninh học đường và giám sát cơ sở lẻ tăng theo cấp số nhân. Nguy hại hơn, dòng vốn đầu tư có xu hướng bị nghẽn lại ở cơ sở chính (nơi Ban giám hiệu đặt văn phòng), tạo ra sự bất bình đẳng về hạ tầng giữa các cơ sở phụ, trực tiếp kéo tụt mặt bằng chất lượng chung của toàn địa phương.
2.2. NGƯỠNG QUY MÔ TỐI ƯU VÀ VƯỢT GIỚI HẠN QUẢN LÝ
Nghiên cứu thực nghiệm quy mô lớn của Lee và Smith [3] khẳng định tồn tại một "ngưỡng quy mô tối ưu" đối với cấp giáo dục bắt buộc. Cụ thể, học sinh tại các trường có quy mô từ 600 đến 900 em đạt mức tiến bộ cao nhất về cả toán học và đọc hiểu.
Trong tâm lý học và quản trị, có khái niệm về "Giới hạn Dunbar" – một người chỉ có thể duy trì mối quan hệ xã hội ổn định tối đa với khoảng 150 người. Đối với một Hiệu trưởng xuất sắc, họ có thể bao quát và quản lý một cộng đồng tối đa khoảng 1 000 – 1 200 học sinh cùng đội ngũ giáo viên của trường đó. Khi quy mô lên tới 2 000 – 10 000 học sinh, việc quản lý sẽ chuyển từ "quản trị con người" sang "quản lý số liệu hành chính”, tiến tới tình thế “sụp đổ quản trị”.
2.3. GIẢM ĐỘNG LỰC HỌC
Chất lượng giáo dục được cấu thành bởi mật độ tương tác mạng lưới giữa Ban giám hiệu (M), Giáo viên (T), Học sinh (S) và Phụ huynh (P). Hàm số đo lường chất lượng tương tác xã hội tỷ lệ nghịch với quy mô trường học.
Theo phân tích dọc của Kisida [4], quy mô trường học càng lớn thì mối liên kết hữu cơ này càng bị bẻ gãy. Giáo viên mất khả năng nhận diện các đặc điểm tâm sinh lý cá biệt của từng học sinh (sự sâu sát tối thiểu). Việc thiếu hụt tương tác cá nhân hóa khiến học sinh mất đi "cảm giác thuộc về" – một biến số tâm lý cốt lõi quyết định động lực học tập nội tại của học sinh.
2.4.GIA TĂNG BẤT BÌNH ĐẲNG CHO NHÓM HỌC SINH YẾU THẾ
Một trong những phát hiện nghiêm trọng của kinh tế học giáo dục là quy mô trường lớn làm gia tăng khoảng cách thành tích giữa các nhóm học sinh.
Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm về nghiên cứu giáo dục [5] cho thấy, trường học quy mô nhỏ nâng đỡ tốt nhất cho nhóm học sinh có hoàn cảnh khó khăn hoặc học lực trung bình và yếu. Ngược lại, tại các "siêu trường", để duy trì trật tự cho hàng vạn học sinh, nhà trường buộc phải áp dụng các quy trình quản lý hành chính cứng nhắc, cồng kềnh. Do vậy khó can thiệp sư phạm cho các trường hợp học sinh đặc biệt.
2.5. ẢNH HƯỞNG LÊN GIÁO VIÊN
Giáo viên là nhân tố quan trọng nhất quyết định trực tiếp đến chất lượng đầu ra của học sinh.
Các nghiên cứu về hành vi tổ chức giáo dục [5] chứng minh quy mô trường học tỷ lệ thuận với mức độ áp lực hành chính và tỷ lệ nghịch với sự thỏa mãn nghề nghiệp của giáo viên. Trong mô hình sáp nhập chia thành nhiều cơ sở lẻ, giáo viên phải gánh thêm chi phí về thời gian và thể lực do việc di chuyển, đồng bộ hóa sổ sách và các cuộc họp tập trung. Làm tăng phần năng lượng đầu tư cho vận hành, giảm phần năng lượng dành cho sáng tạo bài giảng. Tương tác sâu với học sinh bị giảm sút. Cuối cùng là làm suy giảm chất lượng giáo dục và ham muốn nghề nghiệp của giáo viên.
ĐỀ XUẤT
Thay vì tuân thủ máy móc việc sáp nhập hành chính, thật sự tốt hơn nếu Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu mô hình ngoại lai thay thế để đề xuất với Chính phủ, Trung ương Đảng và Bộ Chính trị . Sao cho vừa đạt mục tiêu giảm biên chế lại vừa nâng cao chất lượng giáo dục.
Với các phường - xã có trường lớn từ 2000 học sinh hay “siêu trường” cần gấp rút tiến hành số hoá, áp dụng công nghệ thông minh, trí tuệ nhân tạo và áp dụng mô hình lai. Sau đây là gợi ý để xem xét:
- Giữ nguyên các trường độc lập về mặt chuyên môn (mỗi trường có Hiệu trưởng riêng, quy mô dưới 2.000 học sinh).
- Cắt giảm toàn bộ bộ máy gián tiếp tại từng trường.
- Thành lập TRUNG TÂM DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG GIÁO DỤC đặt tại phường - xã. Trung tâm này sẽ xử lý toàn bộ hồ sơ, bảng lương, sổ sách, công việc hành chính, hậu cần cho tất cả các trường trong phường - xã qua phần mềm quản lý tập trung.
- SỐ HOÁ TOÀN DIỆN VÀ TỰ ĐỘNG HOÁ QUẢN LÝ - là con đường cần phải đi chứ không phải sáp nhập hành chính cơ học. “Trụ sở ảo" sử dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn sẽ giảm nhân sự hành chính về tối thiểu. Toàn bộ công việc dịch vụ sẽ do “Phòng Giáo dục thông minh” đảm nhận.
- TỰ CHỦ TỐI ĐA VỀ CHUYÊN MÔN - trả quyền lực chuyên môn về cho hiệu trưởng và giáo viên là chìa khoá cốt lõi để đảm bảo chất lượng giáo dục.
Mô hình lai này không làm xáo trộn tổ chức, đảm bảo hiệu trưởng và giáo viên tập trung cho chuyên môn, giao tiếp sâu với học sinh và phụ huynh, đồng thời không phải lo lắng về mặt hành chính, hậu cần nhưng lại giảm được biên chế cho phần quản trị và dịch vụ.
Một ưu thế khác là giữ được “màu cờ sắc áo truyền thống” của nhà trường, huy động được sức mạnh của phụ huynh và địa phương, nâng cao tính cạnh tranh thực chất chứ không hình thức.
Trường có bao nhiêu học trò, quản lý như thế nào cơ bản là việc của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo và nhà trường, chứ không hoàn toàn phụ thuộc vào Bộ Nội vụ hay quyết định chính trị từ trên đưa xuống.
Giáo dục không thể là mô hình “vừa chạy vừa xếp hàng”, càng không thể là môi trường chịu sự áp đặt phương châm quản trị “sai đâu sửa đấy”.
Giáo dục Việt Nam không nên tách rời con đường đi chung của nhân loại. Trong quản trị giáo dục, nếu chính sách cứ 'khắc nhập khắc xuất' – lúc gộp môn, lúc thay sách, lúc nhập trường…, thì hiệu trưởng, giáo viên và học sinh sẽ là những người đầu tiên “lãnh đòn chí mạng”.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Báo sggp: Cả nước có 5.749 cơ sở giáo dục quy mô lớn, trong đó 73 cơ sở có trên 100 lớp, 02/10/2026.
[2] M. Andrews, W. Duncombe, and J. Yinger, Revisiting economies of size in American education: Are we any closer to a consensus?, Economics of Education Review 21 (2002), no. 3, 245–262.
[3] V. E. Lee and J. B. Smith, High school size: Which works best, and for whom?, Educational Evaluation and Policy Analysis 19 (1997), no. 3, 205–227.
[4] B. Kisida and L. Bowen, Evaluating the effect of school size on student achievement and behavioral outcomes, Journal of Educational Research 109 (2016), no. 4, 381–392.
[5] National Research Council, Learning from school restructuring: Evidence on the effects of school size and organizational design, The National Academies Press, Washington, DC, 2003.