(Gã Khờ tập phản biện văn học)
Gã vừa đọc một bài khá dài, tên cũng rất dữ: “Bản chất thật sự sau ánh hào quang Nobel Văn học và sự tha hóa của một bộ phận văn nghệ sĩ Việt Nam.” Đọc xong, Gã thấy có một chuyện hơi lạ; bài viết tuyên bố sẽ “lột trần sự thật”, nhưng ngay đến tên một cuốn sách rất nổi tiếng của Việt Nam, bài ấy cũng viết ngược; thế thì hơi khó, bởi muốn lột trần sự thật, trước tiên phải mặc cho mình một cái áo gọi là sự thật đã.
Gã xin nói từng chuyện; không vội.
1. Mỹ điều khiển Nobel?
Có thể; nhưng chứng cứ đâu?
Gã không ngây thơ đến mức nghĩ rằng văn chương đứng ngoài chính trị; cũng không ngây thơ đến mức tin mọi giải thưởng quốc tế đều tinh khiết như nước cất; quyền lực mềm có thật; ngoại giao văn hóa có thật; tuyên truyền có thật; CIA từng dùng sách trong Chiến tranh Lạnh cũng có thật. Nhưng từ những chuyện đó nhảy thẳng tới kết luận: “Nobel là công cụ để Mỹ và phương Tây ban phát quyền lực mềm” thì Gã xin hỏi một câu rất quê: Bằng chứng đâu?
Nobel Hòa bình do Ủy ban Nobel Na Uy quyết định; Nobel Văn học do Viện Hàn lâm Thụy Điển quyết định; Mỹ ở đâu trong cơ chế bỏ phiếu; Tổng thống Mỹ có mấy phiếu; CIA có đại diện nào ngồi trong Viện Hàn lâm Thụy Điển; Bộ Ngoại giao Mỹ gửi danh sách người phải đoạt giải vào ngày nào? Nếu có tài liệu ấy, đưa ra; Gã đọc; có khi Gã còn viết phụ. Nhưng nếu không có, thì phải gọi đúng tên: đó là một giả thuyết chính trị; giả thuyết có thể đúng một phần, nhưng giả thuyết chưa phải sự thật.
2. Obama được Nobel Hòa bình năm 2009?
Đúng; và Gã cũng thấy buồn cười. Một ông Tổng thống mới ngồi ghế chưa nóng đã nhận Nobel Hòa bình; ngay cả trên thế giới lúc ấy cũng đầy người hỏi: Hòa bình nào? Thành tích đâu? Phê phán Nobel về trường hợp Obama hoàn toàn có lý; nhưng một giải thưởng gây tranh cãi không tự động chứng minh rằng toàn bộ lịch sử Nobel là sản phẩm của Washington. Một trọng tài thổi sai một quả penalty không chứng minh cả giải bóng đá do trọng tài dàn xếp; muốn chứng minh cả giải bị dàn xếp phải có thêm chứng cứ; logic đơn giản vậy thôi.
3. Nhưng CIA từng dùng “Bác sĩ Zhivago” chống Liên Xô mà?
À; chuyện này thì đúng thật; và đây mới là phần thú vị. CIA từng bí mật hỗ trợ xuất bản và phát tán bản tiếng Nga của Doctor Zhivago trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh; hồ sơ sau này được giải mật; không cần thuyết âm mưu; có giấy trắng mực đen. CIA hiểu rằng Liên Xô cấm một cuốn tiểu thuyết của chính một nhà văn Nga thì họ có thể dùng chính cuốn sách ấy để đánh vào hình ảnh của Liên Xô; đấy chính xác là chiến tranh văn hóa; Gã chẳng việc gì phải phủ nhận.
Nhưng khoan; CIA lợi dụng Doctor Zhivago làm tuyên truyền là một chuyện; CIA sáng tác Doctor Zhivago là chuyện khác; CIA điều khiển Nobel trao giải cho Pasternak lại là chuyện thứ ba. Có bằng chứng chuyện thứ nhất; muốn khẳng định chuyện thứ ba thì phải đưa bằng chứng của chuyện thứ ba; không thể lấy hóa đơn mua con gà rồi tuyên bố đã chứng minh được ai đẻ ra quả trứng; đó là hai việc khác nhau.
4. Cao Hành Kiện chống Trung Quốc nên được Nobel?
Có thể đặt câu hỏi ấy; nhưng rồi đến Mạc Ngôn thì sao? Bài viết lấy cả Cao Hành Kiện lẫn Mạc Ngôn để chứng minh Nobel chống Trung Quốc; Gã đọc đến đây hơi chóng mặt. Cao Hành Kiện rời Trung Quốc, sống ở Pháp; được Nobel; bảo: Thấy chưa, phương Tây chỉ thích người rời bỏ Trung Quốc. Đến năm 2012, Mạc Ngôn được Nobel; ông này sống tại Trung Quốc, từng ở trong quân đội Trung Quốc, hoạt động trong đời sống văn học chính thức của Trung Quốc; lại bảo: Thấy chưa, phương Tây dùng Mạc Ngôn để bôi đen Trung Quốc.
Ơ hay; thế thì Trung Quốc làm kiểu gì mới đúng? Nhà văn bỏ Trung Quốc được Nobel: bằng chứng âm mưu; nhà văn ở Trung Quốc được Nobel: cũng bằng chứng âm mưu; nhà văn chống chính quyền được: âm mưu; nhà văn không chống chính quyền được: vẫn âm mưu. Một giả thuyết mà mọi kết quả đều chứng minh nó đúng thì không còn là giả thuyết có khả năng kiểm chứng nữa; nó trở thành niềm tin; mà đã là niềm tin thì Gã xin phép không tranh luận.
5. Rồi đến “Nỗi buồn chiến tranh”
Đây mới là đoạn Gã phải dừng lại. Bài viết gọi Bảo Ninh bằng đủ thứ tên; Gã bỏ qua; chửi nhau không phải phê bình văn học. Nhưng bài có một câu rất cụ thể: “Nỗi buồn chiến tranh (tên gốc: Thân phận của tình yêu)”; sai; không phải sai quan điểm, mà sai dữ kiện.
Tên bản thảo ban đầu của Bảo Ninh là: Nỗi buồn chiến tranh; khi chuẩn bị xuất bản, phía Nhà xuất bản Hội Nhà văn đề nghị đổi tên; nhà văn Nguyễn Phan Hách, người trực tiếp biên tập bản thảo, từng kể rằng ông yêu cầu Bảo Ninh nghĩ thêm một số tên khác rồi chính ông lựa chọn: Thân phận của tình yêu. Tức là chiều của câu chuyện là: NỖI BUỒN CHIẾN TRANH → THÂN PHẬN CỦA TÌNH YÊU; chứ không phải ngược lại.
Cuối năm 1990, sách ra đời với tên Thân phận của tình yêu; năm 1991, cuốn sách được trao Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam; đến lần tái bản năm 1992, tên Nỗi buồn chiến tranh được trả lại. Đấy; một chi tiết nhỏ thôi; nhưng nó làm nảy ra một câu hỏi rất lớn.
6. Nếu đây là “rác phẩm phương Tây chống Việt Nam”, tại sao người Việt lại trao giải cho nó trước?
Đây là đoạn Gã thấy câu chuyện bắt đầu vui. Lập luận của bài viết đại khái thế này: phương Tây phát hiện Nỗi buồn chiến tranh; phương Tây tung hô; phương Tây trao giải; rồi giới văn chương Việt Nam “ăn bả Tây”, chạy theo tung hô Bảo Ninh. Nghe khá trơn tru; chỉ tiếc một thứ: niên đại.
Cuốn sách được Nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản cuối năm 1990; nó được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải năm 1991; bản tiếng Anh The Sorrow of War xuất hiện sau đó; Independent Foreign Fiction Prize đến 1994; Nikkei Asia Prize đến tận 2011. Vậy Gã xin hỏi: năm 1991 Hội Nhà văn Việt Nam ăn loại “bả Tây” nào mà đến năm 1994 Tây mới mang sang? Chẳng lẽ bả được gửi ngược thời gian? Nếu có cỗ máy thời gian ấy, Gã đề nghị giữ lại; đất nước đang cần nhiều việc quan trọng hơn văn chương.
7. Nhưng phương Tây thích “Nỗi buồn chiến tranh” vì nó bôi nhọ cuộc kháng chiến?
Đây là một giả thuyết có thể tranh luận; nhưng muốn tranh luận thì phải mở cuốn sách ra; đừng mở hộp tính từ. Gã đọc Nỗi buồn chiến tranh không thấy Bảo Ninh viết một luận văn chính trị chứng minh rằng cuộc kháng chiến của Việt Nam là phi nghĩa; Gã thấy một người lính tên Kiên; sống sót; đi qua chiến tranh; rồi không thực sự thoát khỏi chiến tranh nữa; chiến tranh kết thúc ngoài đời nhưng tiếp tục xảy ra trong trí nhớ anh ta; có xác chết; có tình yêu; có tình dục; có sợ hãi; có đồng đội; có ám ảnh; có những phần rất đẹp; có những phần Gã cũng thấy có thể tranh luận; nhưng đó là một tiểu thuyết về ký ức của con người trong chiến tranh, không phải nghị quyết về chiến tranh.
Có một điều Gã mãi không hiểu; tại sao nói: “Chúng ta đã chiến thắng” thì được coi là yêu nước; nhưng nói: “Chúng ta đã chiến thắng và rất nhiều người đã phải trả một cái giá khủng khiếp” lại bị coi là phản bội? Hai điều đó có loại trừ nhau đâu. Một dân tộc có thể chiến thắng; một người lính trong dân tộc chiến thắng ấy vẫn có thể mất bạn bè, mất tuổi trẻ, mất tình yêu và mang vết thương suốt đời; thừa nhận nỗi đau của người lính không làm chiến thắng nhỏ đi; có khi ngược lại; nó cho chúng ta biết chiến thắng ấy đắt đến mức nào.
8. Người lính có được phép buồn không?
Gã hỏi thật; một người lính được phép hy sinh; được phép anh hùng; được phép xung phong; được phép chết; nhưng sau chiến tranh, anh ta có được phép mất ngủ không; có được phép nhớ đồng đội không; có được phép sợ hãi không; có được phép đau đớn không; có được phép nhớ người yêu không; và có được phép buồn không?
Nếu câu trả lời là không, thì chúng ta đang yêu người lính hay đang yêu một bức tượng về người lính? Con người bằng xương bằng thịt khác tượng đài ở chỗ ấy; tượng không đau; người thì có; văn chương viết về phần “người” ấy.
9. Có thể chê Bảo Ninh không?
Quá được; Gã thậm chí nghĩ phải được. Có thể nói kết cấu Nỗi buồn chiến tranh rối; có thể tranh luận về những đoạn tình dục; có thể kiểm chứng từng chi tiết liên quan đến đời sống bộ đội; có thể hỏi liệu tác phẩm có quá chìm vào bi kịch cá nhân; có thể tranh luận liệu góc nhìn ấy có làm mờ bối cảnh lịch sử rộng lớn; có thể đặt Bảo Ninh cạnh Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Thi, Nguyễn Trung Thành, Chu Cẩm Phong, Lê Lựu, Khuất Quang Thụy… rồi hỏi ông đứng ở đâu; hay lắm; Gã sẵn sàng ngồi cả đêm.
Nhưng gọi: “rác phẩm”; “bồi bút”; “phản trắc”; thì cuộc thảo luận kết thúc trước khi nó bắt đầu; bởi đó không phải phê bình; đó là kết án; mà kết án một con người thì cần chứng cứ lớn hơn rất nhiều so với việc không thích cuốn tiểu thuyết của ông ta.
10. Còn chuyện nhà văn đi tù để được Mỹ đón?
Đoạn này Gã đọc hai lần. Bài viết đưa ra một công thức: chống Nhà nước; đi tù; được Mỹ can thiệp; sang Mỹ; rồi “nhặt rác, bưng phở, làm nail, thợ hồ”. Gã chưa bàn công thức chính trị ấy đúng đến đâu; Gã chỉ hỏi: Bưng phở thì có gì nhục?
Làm nail có gì nhục; thợ hồ có gì nhục; thu gom rác có gì nhục? Một người Việt đứng mười tiếng trong tiệm nail nuôi con học đại học đáng khinh ở điểm nào; một anh phụ hồ kiếm tiền bằng mồ hôi có thấp kém hơn một người ngồi trước máy tính chửi người khác là “phản động” không? Gã tưởng chúng ta tôn trọng lao động; nếu thế, xin đừng dùng nghề nghiệp của người lao động làm câu chửi; muốn phê phán quan điểm chính trị của ai thì cứ phê phán; đừng kéo người bưng phở và chị làm nail vào; họ đang bận kiếm sống.
11. Rồi đến Nguyễn Quang Thiều
Đây là chuyện khác; và Gã nghĩ càng phải nói cẩn thận. Nguyễn Quang Thiều có thể bị phê phán; Hội Nhà văn Việt Nam càng không phải nơi bất khả xâm phạm; lãnh đạo Hội quản lý thế nào; Nhà xuất bản Hội Nhà văn xảy ra chuyện gì; trách nhiệm tổ chức Đảng đến đâu; trách nhiệm cá nhân thế nào; những vấn đề ấy phải được đặt ra. Đặc biệt khi cuối tháng 7/2026, cơ quan kiểm tra của Đảng đã có quyết định kỷ luật nghiêm khắc đối với ông Nguyễn Quang Thiều về các chức vụ trong Đảng; đấy là sự kiện; cứ lấy sự kiện ấy mà phân tích; sai ở đâu nói ở đó; trách nhiệm gì nói trách nhiệm ấy.
Nhưng từ một sai phạm quản lý hay trách nhiệm tổ chức nhảy sang kết luận một con người: “ăn bả Tây”; “tay sai ngoại bang”; “bán rẻ lương tri”… thì lại quay về câu hỏi đầu tiên: Chứng cứ đâu? Gã không bênh Nguyễn Quang Thiều; Gã chỉ bênh một nguyên tắc rất cũ: Buộc tội càng nặng, chứng cứ càng phải nặng.
12. Gã cũng không bênh Nobel
Nói luôn cho khỏi hiểu lầm. Gã chẳng có lý do gì phải bảo vệ Nobel; Nobel từng gây tranh cãi; Hội đồng Nobel gồm con người; mà đã là con người thì có định kiến, có hệ giá trị, có môi trường chính trị, có thời đại của họ; phương Tây chắc chắn sử dụng văn hóa như quyền lực mềm; Mỹ chắc chắn từng sử dụng văn chương trong chiến tranh tư tưởng; CIA đã làm chuyện đó; không cần né tránh.
Nhưng phát hiện rằng văn chương có thể bị chính trị lợi dụng khác hoàn toàn với tuyên bố rằng: mọi nhà văn được phương Tây khen đều là sản phẩm chống phá. Nếu dùng logic ấy thì nguy hiểm lắm; một ngày nào đó Nguyễn Du được thế giới tôn vinh, ta lại phải nghi Truyện Kiều có vấn đề vì Tây thích quá sao? Không thể như vậy.
13. Cũng đừng phong thánh “Nỗi buồn chiến tranh”
Gã nói nốt chuyện này. Việc Gã phản đối cách đấu tố Bảo Ninh không có nghĩa Gã đề nghị dựng tượng cho Nỗi buồn chiến tranh; không. Một tác phẩm văn chương phải chịu được phê bình; càng được tung hô càng phải bị đọc kỹ. Nếu có chi tiết sai lịch sử: chỉ ra; nếu có chỗ méo mó đời sống bộ đội: đối chiếu; nếu có những đoạn bị dịch giả hoặc truyền thông phương Tây diễn giải theo hướng phục vụ một narrative chính trị nào đó: đem nguyên văn ra phân tích; nếu một giải thưởng nước ngoài thực sự sử dụng cuốn sách để thúc đẩy một diễn ngôn địa chính trị: tìm tài liệu và chứng minh; Gã sẽ là người đọc đầu tiên.
Đó mới là cách tranh luận với một tác phẩm: Đọc nó; không phải chửi nó.
14. Điều Gã sợ nhất không phải “bả Tây”
Gã sợ một thứ khác; đó là lúc chúng ta trở nên thiếu tự tin đến mức nghĩ rằng chỉ cần một cuốn tiểu thuyết kể về nỗi đau của người lính cũng đủ làm lung lay lịch sử của một dân tộc. Không; lịch sử Việt Nam không mong manh thế; hàng triệu người đã sống nó; hàng triệu gia đình đã trả giá cho nó; một cuốn tiểu thuyết không thể xóa Điện Biên Phủ; một cuốn tiểu thuyết cũng không thể xóa Trường Sơn; không thể xóa Thành cổ Quảng Trị; không thể xóa những nghĩa trang kéo dài đến tận hôm nay.
Nếu lịch sử ấy đủ lớn thì nó chịu được cả những câu hỏi khó; thậm chí nó cần những câu hỏi khó.
15. Văn chương không phải tờ áp-phích
Gã yêu những trang viết về người lính anh hùng; nhưng Gã cũng muốn đọc những trang viết về người lính sợ chết; bởi người vượt qua nỗi sợ để bước lên mới là người dũng cảm. Nếu một người không biết sợ, không biết đau, không biết yêu, không nhớ mẹ, không nhớ người yêu, không hoảng loạn khi đồng đội chết bên cạnh mình, thì người ấy không còn là con người nữa; đấy là tượng; mà văn chương không phải xưởng đúc tượng.
Văn chương có một công việc khác; nó trả con người về cho con người; cho người anh hùng được khóc; cho người chiến thắng được đau; cho người sống sót được nhớ những người không trở về; và đôi khi, cho một dân tộc sau tiếng reo chiến thắng được ngồi xuống một lát để nhớ xem mình đã mất những ai. Gã không thấy điều ấy làm giảm đi sự vĩ đại của chiến thắng; Gã thấy ngược lại; nó làm cho hai chữ hy sinh có trọng lượng.
16. Có một cách yêu nước rất dễ
Đó là yêu một đất nước không có khuyết điểm; một lịch sử không có góc tối; một người lính không bao giờ sợ; một cán bộ không bao giờ sai; một nhà văn chỉ viết những điều ta muốn nghe; một dân tộc lúc nào cũng đúng. Yêu một đất nước như vậy dễ lắm; bởi đất nước ấy không tồn tại.
Khó hơn là yêu một đất nước có cả vinh quang lẫn mất mát; có những trang sử chói sáng và những số phận đau đớn; có những con người phi thường nhưng vẫn mang đầy những yếu đuối rất người; và vẫn yêu; vẫn bảo vệ; vẫn không cho phép ai xuyên tạc lịch sử; nhưng cũng không vì thế mà sợ lịch sử được nhìn từ nhiều phía của chính những người đã sống trong nó.
Gã nghĩ lòng yêu nước đủ lớn phải chịu được sự thật; nếu một lòng yêu nước chỉ tồn tại được với điều kiện mọi người đều nói giống nhau, thì có lẽ vấn đề không nằm ở người đặt câu hỏi.
17. Phương Tây có lợi dụng văn chương Việt Nam không?
Gã nghĩ: Có thể có; và chuyện ấy đáng nghiên cứu nghiêm túc. Một tác phẩm khi bước ra khỏi biên giới không còn hoàn toàn nằm trong tay tác giả; người dịch lựa chọn từ ngữ; nhà xuất bản lựa chọn cách giới thiệu; truyền thông lựa chọn những đoạn muốn trích; giới phê bình đặt tác phẩm vào một diễn ngôn. Một cuốn sách của Việt Nam hoàn toàn có thể bị đọc ở phương Tây theo một cách khác với cách chúng ta đọc nó tại Việt Nam; Nỗi buồn chiến tranh cũng vậy.
Nếu báo chí phương Tây từng cố biến nó thành bằng chứng rằng cuộc kháng chiến của Việt Nam là vô nghĩa, hãy tìm những bài báo ấy; nếu một dịch giả làm lệch ý Bảo Ninh, hãy đặt nguyên tác tiếng Việt cạnh bản dịch; nếu hội đồng giải thưởng nào tuyên bố trao giải vì cuốn sách “vạch trần chế độ cộng sản Việt Nam”, hãy đưa nguyên văn tuyên bố ấy ra; nếu có quỹ nào tài trợ nhằm sử dụng Bảo Ninh như một công cụ chính trị, hãy lần dòng tiền; Gã hoàn toàn ủng hộ việc làm đó.
Nhưng làm đến nơi; có tài liệu; có tên; có ngày; có văn bản; có đối chứng; đừng thấy Tây khen một cuốn sách rồi suy ra cuốn sách là của Tây. Nếu lập luận như vậy thì hóa ra quyền quyết định giá trị văn chương Việt Nam vẫn nằm trong tay Tây; chỉ khác một bên nói: “Tây khen nên hay”; bên kia nói: “Tây khen nên độc”; cả hai đều mắc cùng một bệnh: đều lấy Tây làm thước.
18. Đây mới là cái “bả” Gã thấy đáng sợ
Không phải giải thưởng; không phải Nobel; không phải vài lời khen từ London, Paris hay Stockholm; mà là việc chúng ta đánh mất khả năng tự đọc. Một bên nghe phương Tây nói Bảo Ninh là kiệt tác rồi lập tức quỳ xuống: Kiệt tác! Một bên thấy phương Tây khen Bảo Ninh liền đứng bật dậy: Phản động!
Gã đứng giữa; Gã hỏi: Cuốn sách viết gì? Đọc chưa; chỗ nào hay; chỗ nào dở; chỗ nào đúng; chỗ nào đáng nghi; chi tiết nào phản ánh đúng đời sống người lính; chi tiết nào cần đối chiếu với hồi ký, nhật ký, tài liệu chiến trường; ảnh hưởng của nó đối với văn học Việt Nam là gì? Đó mới là việc của phê bình; nếu không, ta chỉ đổi một thứ sùng bái này lấy một thứ sùng bái khác.
19. Và cũng xin đừng lấy “nhân dân” làm người phát ngôn hộ mình
Gã rất dè dặt mỗi khi đọc những câu kiểu: “Nhân dân không chấp nhận…”; “Dân tộc lên án…”; “Người lính không thể chấp nhận…”; khoan; nhân dân nào; người lính nào? Có hàng triệu người từng mặc áo lính; họ có quyền nhớ chiến tranh khác nhau; có người nhớ chiến công; có người nhớ đồng đội; có người nhớ một trận đánh; có người chỉ nhớ bữa cơm đói; có người nhớ cô gái mình từng yêu; có người năm tám mươi tuổi vẫn giật mình khi nghe tiếng pháo; có người không bao giờ kể.
Ai cho chúng ta quyền chọn một ký ức rồi tuyên bố: chỉ ký ức này mới yêu nước? Chu Cẩm Phong đã viết nhật ký; Đặng Thùy Trâm đã viết nhật ký; bao người lính đã viết thư về nhà; trong đó đâu chỉ có khẩu hiệu; có nhớ; có đói; có bệnh; có sợ; có tình yêu; có cái chết; và chính vì họ vẫn bước tiếp giữa tất cả những điều ấy, sự hy sinh của họ mới khiến hậu thế cúi đầu.
20. Có một ranh giới phải giữ
Gã nghĩ chúng ta hoàn toàn có quyền bảo vệ lịch sử; phải chống xuyên tạc; phải phản bác việc đánh đồng kẻ xâm lược với người bảo vệ Tổ quốc nếu có người cố tình làm điều đó; phải phản bác những tài liệu giả; phải chỉ ra những chi tiết lịch sử bị bóp méo. Nhưng có một ranh giới rất quan trọng: Phản bác xuyên tạc lịch sử không đồng nghĩa với cấm con người kể nỗi đau của mình trong lịch sử.
Hai chuyện khác nhau; nếu không phân biệt được, chúng ta sẽ phạm một sai lầm rất lớn: muốn bảo vệ người lính nhưng lại tước mất quyền được kể của chính người lính. Bảo Ninh từng là lính; ta có quyền không đồng ý với cách ông nhớ; nhưng ký ức của ông vẫn là ký ức của một người đã đi qua chiến tranh; muốn bác bỏ chỗ nào, hãy bác bằng tài liệu; không cần tước tư cách của ông trước rồi mới đọc sách.
21. Còn Hội Nhà văn Việt Nam?
Gã từng nói rồi; một tổ chức được lập ra, có điều lệ, có chức năng, có ngân sách, có ban lãnh đạo thì phải chịu trách nhiệm về hoạt động của mình; không có vùng cấm; Hội Nhà văn cũng vậy; Nguyễn Quang Thiều cũng vậy. Sai phạm nào đã được cơ quan có thẩm quyền kết luận thì nói đúng sai phạm ấy; đường lối hoạt động nào có vấn đề thì tranh luận; việc lựa chọn, tôn vinh tác phẩm nào gây tranh cãi thì hỏi đến cùng; vai trò của Hội trong đời sống văn học hiện nay có còn tương xứng với lịch sử của chính Hội hay không cũng là một câu hỏi rất đáng đặt ra; thậm chí Gã nghĩ phải đặt ra gay gắt.
Nhưng chính vì muốn hỏi đến cùng nên càng không cần chửi; bởi khi ta gọi một người là “tay sai”, người ta chỉ cần hỏi: Tài liệu đâu? Không có; thế là toàn bộ những câu hỏi chính đáng còn lại cũng bị chìm theo; một bài phê bình đáng lẽ có thể rất mạnh bỗng tự làm yếu mình vì những lời kết tội mà nó không chứng minh nổi; tiếc lắm.
22. Đừng biến Hội Nhà văn thành cơ quan cấp giấy chứng nhận lòng yêu nước
Hội Nhà văn có trách nhiệm với nền văn học; nhưng Hội Nhà văn không thể quyết định ai yêu nước hơn ai bằng việc người ấy viết một cuốn tiểu thuyết vui hay buồn; và ngược lại, một giải thưởng quốc tế cũng không thể biến một nhà văn thành thiên tài; giá trị cuối cùng vẫn nằm trong tác phẩm.
Có những cuốn từng nhận giải rất lớn rồi biến mất; có những cuốn chẳng nhận giải gì mà sống vài trăm năm; thời gian là hội đồng giám khảo tàn nhẫn nhất; không phong bì; không ngoại giao; không tuyên truyền; nó chỉ hỏi: Còn người đọc không?
23. Gã quay lại Nobel
Gã không thờ Nobel; Nobel cũng chẳng cần Gã bảo vệ. Giải thưởng ấy có lịch sử của nó; có vinh quang; có tranh cãi; có những lựa chọn khiến thế giới kính phục; có những lựa chọn khiến người ta bật cười. Cứ nghiên cứu; cứ phê phán; nếu phát hiện can thiệp chính trị, phơi ra; nếu tìm thấy tài liệu mật, công bố; nếu có dòng tiền, lần theo; nếu có vận động hành lang, chứng minh.
Nhưng đừng bắt đầu bằng kết luận rồi đi nhặt mọi sự kiện vừa mắt để chứng minh kết luận ấy; khoa học không làm thế; sử học không làm thế; phê bình nghiêm túc càng không nên làm thế; bởi nếu chỉ lựa những dữ kiện thuận ý mình, người ta có thể chứng minh gần như bất cứ thứ gì.
24. Và Gã quay lại Bảo Ninh
Có lẽ đây mới là điều Gã muốn nói nhất; đừng phong thánh ông ấy; nhưng cũng đừng thiêu ông ấy; hãy đọc. Nếu Nỗi buồn chiến tranh dở, chứng minh nó dở bằng văn chương; nếu nó xuyên tạc lịch sử, chỉ đúng đoạn nào xuyên tạc và đưa tài liệu đối chứng; nếu bản dịch phương Tây bóp méo nguyên tác, so hai bản với nhau; nếu truyền thông quốc tế cố chính trị hóa Bảo Ninh, lập hồ sơ những bài viết ấy; nếu có mạng lưới giải thưởng cố tình sử dụng ông cho một mục tiêu chính trị, dựng lại mạng lưới bằng chứng.
Làm được thế, Gã phục; bởi khi ấy chúng ta không còn chửi nhau; chúng ta đang nghiên cứu một hiện tượng văn hóa; và có thể chính từ cuộc nghiên cứu ấy, ta sẽ phát hiện một câu chuyện thú vị hơn nhiều so với hai chữ “phản động”.
25. Một chi tiết nhỏ nhưng Gã muốn nhắc lại
Bài viết mở đầu bằng tham vọng: “lột trần lớp vỏ bọc.” Hay; nhưng đến đoạn Bảo Ninh lại viết: Nỗi buồn chiến tranh, “tên gốc: Thân phận của tình yêu”; sai chiều lịch sử xuất bản.
Tên bản thảo là: Nỗi buồn chiến tranh; tên được đổi khi xuất bản lần đầu: Thân phận của tình yêu; rồi sau đó: Nỗi buồn chiến tranh được trả lại. Một bài viết muốn xét lại cả Nobel, CIA, phương Tây, Bảo Ninh và Hội Nhà văn Việt Nam mà ngay một dữ kiện cơ bản như thế còn chưa kiểm tra thì Gã nghĩ… ta nên chậm lại một chút; không phải để bênh Bảo Ninh; mà để bênh sự thật.
26. Bởi có một thứ còn nguy hiểm hơn “bả Tây”
Đó là bả của định kiến. Bả Tây làm người ta nghĩ: cái gì Tây khen cũng hay; bả định kiến làm người ta nghĩ: cái gì Tây khen cũng độc; hai loại bả nhìn như đối nghịch nhưng thành phần hoạt chất giống nhau: đều làm người ta thôi suy nghĩ.
Một bên quỳ xuống trước giải thưởng; một bên nổi giận trước giải thưởng; Gã chọn cách thứ ba: cầm cuốn sách lên; đọc; cầm tài liệu lên; kiểm tra; ai nói đúng, nhận đúng; ai nói sai, chỉ sai; không cần biết người ấy đứng bên nào.
27. Gã nghĩ văn chương Việt Nam đủ lớn để làm việc đó
Chúng ta có một nền văn học đi qua quá nhiều biến cố để phải sợ một cuốn tiểu thuyết; có Nguyễn Du; có Nguyễn Đình Chiểu; có Nam Cao; có Tố Hữu; có Nguyễn Thi; có Nguyễn Trung Thành; có Chu Cẩm Phong; có Nguyễn Minh Châu; có hàng nghìn người cầm bút khác nhau; họ không viết giống nhau; và may thay họ không viết giống nhau.
Nếu tất cả nhà văn cùng nhìn một hướng, dùng một giọng, kể một câu chuyện, thì chúng ta đâu cần nhiều nhà văn đến vậy; chỉ cần một người viết rồi photocopy ra. Văn chương tồn tại chính bởi mỗi con người nhìn thế giới từ một cửa sổ khác; điều quan trọng không phải cửa sổ ấy quay về Đông hay Tây; điều quan trọng là: qua cửa sổ ấy, người viết có nói thật điều mình nhìn thấy hay không.
28. Gã xin kết bằng một chuyện rất đơn giản
Gã không biết Bảo Ninh có xứng đáng với tất cả những lời ca tụng dành cho Nỗi buồn chiến tranh hay không; thời gian sẽ trả lời. Gã cũng không biết một ngày nào đó Nobel có trao cho một nhà văn Việt Nam hay không; có thì vui; không có cũng chẳng sao; văn chương Việt Nam không sinh ra để chờ Stockholm cấp giấy chứng nhận; Nguyễn Du đâu cần Nobel mới thành Nguyễn Du.
Nhưng Gã biết một điều; nếu chúng ta muốn bảo vệ lịch sử của dân tộc, hãy bắt đầu bằng việc không viết sai lịch sử của một cuốn sách; nếu muốn bảo vệ sự thật, hãy dùng sự thật; nếu muốn chống tuyên truyền, đừng biến mình thành một bộ máy tuyên truyền khác; nếu muốn phê phán nhà văn, hãy đọc tác phẩm; nếu muốn kết tội một con người, hãy đưa chứng cứ; còn nếu chứng cứ chưa có… thì xin đừng lấy sự phẫn nộ để điền vào chỗ trống.
Bởi tiếng nói càng lớn không làm một mệnh đề sai trở thành đúng; và lòng yêu nước cũng không cần sự sai lệch để bảo vệ nó. Một dân tộc từng đi qua chiến tranh, mất hàng triệu con người và vẫn đứng dậy xây dựng đất nước hôm nay… đủ mạnh để nghe một người lính kể rằng: chiến tranh đã làm anh ấy buồn.
Gã nghĩ vậy; có thể Gã khờ; nhưng Gã vẫn tin: Một nền văn chương mạnh không phải là nền văn chương không có những tiếng nói khác nhau; mà là nền văn chương đủ bản lĩnh để sự thật tự tranh luận với sự thật.
Còn việc của chúng ta? Đọc; kiểm chứng; rồi hãy phán xét.
—