Trang chủ » Bầu bạn góp cổ phần

BÀN VỀ TÊN NƯỚC “VIỆT NAM” QUA CHỮ HÁN

Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi
Thứ ba ngày 30 tháng 6 năm 2026 6:08 AM


Từ ngàn xưa, nơi các ngôi làng Việt cứ mỗi độ xuân về Tết đến, vào cữ ngày hai nhăm ba mươi là người xóm giềng lại í ới rộn rịp rủ nhau đi chợ sắm: Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ / Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh. Thịt mỡ, dưa hành là đồ ăn, cây nêu, tràng pháo là đồ chơi, câu đối, bánh chưng là đồ thờ cúng. Đáng kể nhất trong những thứ đồ dùng cho ngày lễ trọng bậc nhất này là đồng bánh chưng, có quê gọi bánh Lang Liêu. Một đồng bánh gói gém trong nó các sản vật mang đủ triết lý về âm dương ngũ hành, giàu ý nghĩa nhân sinh. Mỗi gia đình người Việt đón Tết, ít cũng phải có dăm ba, nhiều thì một đôi chục đồng để thờ cúng tổ tiên và đem đi chúc Tết bà con họ mạc. Việc cắt bánh chưng chia phần là câu chuyện ẩn chứa điều liên quan đến tên nước ta qua chữ nghĩa văn hóa Hán – Việt, ngẫm ra thật nhiều sâu xa, thú vị.

Đã biết chữ Hán khởi từ tượng hình, hoàn thiện ở Lục thư với 6 cách tạo chữ, sử dụng chữ. Ở bài viết này chúng tôi xin chỉ bàn về phép tạo tượng hình chữ “việt , ” qua sự kết hợp bộ “tẩu ”, hay bộ “mễ ”. Tự nghìn xưa vua chúa Trung Quốc đã lấy chữ Hán đặt tên cho các nước phụ thuộc, gọi là “ban quốc tính”. Việt Nam nay và thời cổ xưa có tên gọi Nam Việt đều được đặt tên theo mẫu Hán tự. Vậy người Hán đã dùng mẫu tự tượng hình, hình thanh thế nào cho chữ “việt” - Việt Nam? Chúng tôi xin tạm nêu nhận xét theo hiểu biết chắc còn sơ kiến, hạn hẹp, kính mong được các bậc cao minh chỉ giáo thêm cho những điều khiếm khuyết.

1.

Tên nước Việt (Việt Nam) theo chữ Hán được cấu tạo từ chữ rìu, mang tượng cái búa, cái rìu lớn, kết hợp bộ tẩu nghĩa là chạy, tẩu hỏa, vượt qua, nhảy qua, thành chữ việt với 12 nét. Như câu: “phiên san việt lĩnh - trèo đèo vượt núi”; “việt tường nhi tẩu - leo qua tường mà chạy. Vì sao người Hán lại gọi người Bách Việt: Mân Việt, Âu Việt, Nam Việt, Lạc Việt… ở phương nam là người “Việt” theo nghĩa vượt qua, nhảy qua? Người Hán - văn hóa Hoa Hạ xưa xem người Việt sinh sống bằng nghề du canh du cư và mỗi khi gặp nạn chiến tranh, mất đất lại bồng bế nhau chạy loạn, di cư nay đây mai đó, vì thế họ đã suy diễn một cách cơ học mà chế chữ tượng hình về người Việt theo nghĩa đó. Dù vậy, trong Hán Thư , từ “việt hữu ”, hay danh “Bách Việt lại được viết chữ “việt” với bộ mễ : gạo – lúa gạo. Đây là điểm đặc biệt cần lưu ý! Tại sao hai chữ “việt” dùng để chỉ về tộc người Việt, nước Việt ở phương nam trong trường hợp cổ thư này người Hán lại viết với bộ chữ mang ý nghĩa khác? Theo chúng tôi, sự khác nhau do khoảng cách thời gian lịch sử, song căn cốt, sự khác biệt do hai góc nhìn, từ cơ sở văn hóa văn minh và do tâm lý chính trị. Để hiểu thêm sự thâm thúy của chữ Hán, người Hán xưa cũng như nay dùng chữ “việt 越” với ý “thâm nho” coi thường, miệt thị mỗi khi gặp chuyện không vừa ý, họ dựa vào tự dạng chữ Việt bộ tẩu, gọi người Việt là “cẩu tẩu”... Thời gian đô hộ nước Việt thì họ đổi tên các châu, phủ, lộ với mục đích hạ cấp, răn đe: Thiên Trường thành Phụng Hóa, Long Hưng thành Trấn Man, Quốc Oai thành Oai Man, Thiên Bản thành An Bản, Độc Lập thành Bình Lập... Mở rộng sang chữ nghĩa văn chương, trong Truyện Kiều thi hào Nguyễn Du cũng đã sử dụng chữ “việt” – tích việt 昔 越, có bộ “tẩu 走” 5 nét và chữ “tuất 戌” 6 nét, chỉ con chó – về hình dạng hai chữ này rất giống nhau, cho trường hợp nàng Kiều bị nhân vật Sở Khanh lừa hẹn ngày/giờ bỏ trốn: “Mở xem một bức tiên mai / Rành rành tích việt có hai chữ đề / Lấy trong ý tứ mà suy / Ngày hai mươi mốt tuất thì phải chăng…”

Do vậy, từ góc nhìn văn hóa cho thấy rõ căn nguyên vì sao xưa nay người Trung Quốc chỉ dùng chữ “việt” khi viết về người Việt, nước Việt theo bộ tẩu, bỏ qua chữ “việt” theo cổ thư có bộ mễ - mễ: gạo, hay mễ cốc – lúa gạo, tượng hình trông như bó mạ hay hình bông lúa chín, thể hiện được đúng hơn bản sắc văn hóa, văn minh của tộc người trồng lúa nước, như đã biết về dân tộc Việt Nam. Thêm nữa, ngữ âm tiếng Việt khi đọc từ “mễ” nghe gần gụi và đồng âm với các từ mẹ, má, mế, mạ, mụ… Cây mạ, lúa – gạo, với dân Việt bao đời là nguồn sữa, loại lương thực chính yếu nuôi sống con người, vì vậy cây lúa mang biểu tượng như “mẹ” - nguồn sữa nuôi con. Khi một người Việt nào đó mất, có nơi gọi người đó đã về với lúa. Bầu trời với người nông dân Việt, một chòm sao cũng được liên tưởng bằng tên gọi thật “mùa vụ” là ông sao Thần Nông: "Trên trời có ông sao Thần / Bốn mùa chỉ lối cho dân ăn làm / Sang xuân Thần cúi lom khom / Là mùa trồng đậu, dân làng biết chăng? / Bước sang tháng chín rõ trăng / Lưng thần hơi đứng là đang gặt mùa" (ca dao). Khảo sát thư tịch cổ, đôi câu đối ở đền Hát Môn – thờ Hai Bà Trưng, viết bằng chữ Hán: 西江姊妹神湘女/ 東漢縱横霸粵王, nghĩa là, “Tây Giang tỷ muội thần Tương nữ / Đông Hán tung hoành bá Việt vương”. Ở văn bản này, chữ “Việt - 粵” trong “Việt vương” được viết với bộ mễ.

Đi tìm câu trả lời: Vì sao người Trung Quốc không dùng chữ “việt” với bộ mễ để viết về nước Việt Nam, chúng tôi gặp thêm một chứng cứ được sử dụng ngay trong thời hiện đại là việc đặt chữ và số cho biển số xe trên toàn Trung Quốc có cấu trúc chung gồm 7 ký tự, bao gồm một chữ Hán (đại diện cho tỉnh/thành phố đăng ký) và một chữ cái Latin, theo sau là 5 ký tự chữ và số. Ví dụ, chữ: "京" (Jīng - kinh) là Bắc Kinh, và chữ "粤" (Yuè – việt), là Quảng Đông. (Không chỉ bây giờ mà từ xưa sách sử Trung Quốc viết về người Bách Việt, tỉnh Việt ở các tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông cũng đã viết bằng chữ “Việt 粤” này…) Vì vậy không thể không đặt câu hỏi tại sao lại có việc dùng hai chữ “việt” với bộ mễ 粤 và bộ tẩu khác nhau để chỉ về con người, mảnh đất ở hai nơi là nước Việt Nam và tỉnh Quảng Đông - theo địa đồ xưa vốn thuộc đất Giao Châu, miền Bắc Việt Nam ngày nay? Câu trả lời thật khó nghĩ khác, là: chữ “việt” có bộ “mễ” mang mật ngữ xác định về một nền văn hóa, văn minh lúa nước vô cùng rực rỡ.

Lịch sử dân tộc Việt, cổ sử xưa và tân sử nay đều đã ghi nhận về nền văn hóa văn minh dân tộc Việt Nam là nền văn hóa lúa nước, văn minh sông Hồng. Đặc điểm hình tượng này được ghi cụ thể qua những di chỉ văn hóa, văn minh khảo cổ, trên mặt trống đồng Đông Sơn, Ngọc Lũ, những bức tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống, những bài ca dao tục ngữ, những câu truyện truyền thuyết cổ. Và ngày nay cây lúa, gạo, mễ cốc lương thực đã và đang là một thế mạnh hàng đầu của Việt Nam mang tính toàn cầu. Việt Nam ngày này không chỉ là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, hơn thế Việt Nam đang là nước đưa kỹ thuật trồng lúa nước sang canh tác ở châu Phi, châu Mỹ - Cu Ba và Đông Bắc Á - Triều Tiên, giúp các nước này phát triển ngành nông nghiệp thành công về kinh tế, khoa học, giàu tình nhân văn, nhân đạo.

2.

Trở lại ý chữ “việt”, người Việt, nước Việt với bộ tẩu 走- , hay bộ mễ - ? Chữ tẩu, với nghĩa chạy, vượt qua, nhảy qua, xét một cách cơ giới cũng thấy ngay chữ này thuộc động từ, cực động, không đủ nghĩa thể hiện về bản tính, bản chất nghề nghiệp của cư dân bao đời làm nông tang, lập làng định cư an trú một nơi mà trồng dâu nuôi tằm, gieo mạ cấy lúa. Điều này đã được nêu trong những bộ sách, bài nghiên cứu công phu về văn hóa, lịch sử, nhân chủng học, triết học, của các tác giả linh mục Kim Định, tu sỹ Viên Như, Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Trần Ngọc Thêm, Hà Văn Thùy… Qua đó xét thấy, giả dụ tên nước ta, thời Gia Long được “ban” quốc tính theo nghĩa tính từ đẹp đẽ là “Thanh Việt” trong “kỳ thanh thanh việt 聲音清越” thì vẫn không thể hiện được đúng giá trị nền văn hóa, văn minh của dân tộc Việt Nam xưa - nay.

Khi dụng chữ “việt” với bộ mễ - việt, về cách tạo hình tượng hiểu theo mẫu Hán tự, người Việt còn đưa mẫu tượng hình chữ “mễ” vào ứng dụng trong các mẫu vật, các thao tác hoạt động thường nhật, như với hình tượng đồng bánh chưng và cách thức cắt bánh. Đồng bánh chưng hình vuông, làm theo quan niệm trời tròn đất vuông mà chỉ ở Việt Nam mới có. Vật liệu làm bánh chưng có đủ ngũ vị, lấy màu sắc tượng trưng chất ngũ hành: kim – gạo, màu trắng; mộc – lá dong, màu xanh; thủy – nước nấu bánh, màu đen; hỏa – lửa nóng làm chín bánh, màu đỏ; thổ - đỗ, màu vàng. Chiếc bánh được luộc chín, cắt ra để thờ cúng và thụ lộc, thì người ta lấy dây lạt gói bánh dùng làm dây cắt bánh. Cách cắt bánh, chia phần, cụ thể: Cắt bánh làm 4 phần, dùng 2 sợi dây lạt, đặt theo hình chữ thập + thì thành chữ điền - mang ý nghĩa tri ơn mọi sản vật gạo, đỗ và các nhân vị trong bánh đều được sinh ra từ đồng đất. Cách dùng 4 sợi dây lạt, 2 sợi đặt theo dấu chữ thập +, 2 sợi đặt chéo bốn góc thì được chữ mễ – với 8 phần bánh, mẫu tượng hình này mang nghĩa trở lại, tạ ơn lúa – gạo, nguồn dưỡng chất chính nuôi sống con người... Theo mẫu tượng hình Hán tự trong việc cắt bánh chưng này, thêm một lần thấy sự tương thích về hình ảnh, di chỉ văn hóa, văn minh Lạc Việt.

Lời kết:

Như trên đã đề cập, bộ mễ trong chữ việt với đầy đủ ý nghĩa giá trị cụ thể qua di chỉ văn hóa, văn minh thể hiện trên mặt trống đồng Đông Sơn, Ngọc Lũ với những cách mô tả hình ảnh nông cụ, cung cách sinh hoạt của cư dân làm nông nghiệp, như: lưỡi cày, con bò, con cóc, chim cò, trai gái giã gạo, người đánh trống, chèo thuyền, múa cầu mùa… Những biểu tượng đó hiển thị sinh động về một nền văn hóa lúa nước, văn minh sông Hồng, cũng như còn nhiều giá trị tàng trữ ẩn mật trong những bức tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống, trong các câu truyện truyền thuyết, cùng bao lời ca dao, tục ngữ.

Người Trung Quốc xưa nay thường xem người Việt, nước Việt là một tộc người, một vùng đất tách ra từ họ. Hàm ý, văn hóa, văn minh gì gì người Việt, nước Việt có được chỉ là mảnh vỡ ra từ văn hóa, văn minh “mẫu quốc”. Vì thế chăng, mấy nghìn năm nay dân tộc Hán – văn hóa Hoa Hạ đã không thể hạ dù chỉ một chữ việt này cho “quốc tính – nhà nước” của người Nam Việt - Việt Nam. Họ e rằng, qua đó đồng nghĩa thừa nhận có một nền văn hóa lúa nước, văn minh trống đồng không phụ thuộc họ? Và, thêm điểm cốt tử: Từ cơ sở văn hóa này sẽ dẫn đến nghi hồ về nền văn hóa, văn minh lúa nước có tàng trữ về học thuyết âm dương – ngũ hành; trọng động, trọng tĩnh (biến dịch, bất dịch) chăng? Đã có những công trình nghiên cứu cho rằng cư dân trồng lúa nước, khai khẩn ruộng đất, cánh đồng bên những dòng sông, tất yếu phải lo việc định cư – trọng tĩnh - ở yên ổn một nơi lợi về khí hậu, thổ nhưỡng, để mà sáng chế và vận dụng các công cụ sản xuất chế tác từ đồ đồng, đồ sắt là những cái búa, cái rìu, rồi áp dụng theo lịch mặt trăng (âm lịch), dựa vào tiết khí mà gieo trồng cây lúa… Hiển nhiên khi đã đề cập tới các vấn đề, công việc như vậy là gần nghĩa đề cập tới cuốn kỳ thư vốn được coi thuộc văn minh Hoa Hạ, cuốn Kinh Dịch, tiếp sau đó là sách phong thủy. Đây thực sự là vấn đề sâu rộng, hệ trọng mang tính nền tảng về một nền văn hóa lớn…

Tới đây chắc sẽ vang lên câu hỏi: Một dân tộc, đất nước đã tạo nên nền văn hóa lúa nước, văn minh sông Hồng, văn minh trống đồng Đông Sơn, Ngọc Lũ thâm sâu, rực rỡ như thế hà cớ sao tên quốc tính lại phải phụ thuộc vào chữ nghĩa ngoại bang? Thật cốt tử! Thật đau đớn! Song biết sao khi nhân loại nhiều phen chứng kiến những đế chế to lớn, cùng bao quốc gia nhỏ bé hiền hòa đã bị thôn tính, chiếm đoạt, hủy diệt, dẫn đến mất đất đai xứ sở, tính dân tộc với nền văn hóa, văn minh!

Với bài viết này chúng tôi không tham cầu giải đáp câu hỏi lớn, mà chỉ mong làm một việc nhỏ là xác định bộ chữ mang quốc tính “việt” – người Việt, nước Việt Nam qua chữ Hán: Chữ việt viết có bộ mễ hay viết với bộ tẩu 走? Và chúng tôi đã đi đến nhận định: Chữ “việt” - chỉ về người Việt, nước Việt Nam phải được viết với bộ mễ - , đồng âm Việt ngữ, tiếng: mẹ, má, mế… hợp tượng với bó mạ, bó lúa chín; thích ứng với nền văn hóa, văn minh Lạc Việt. Và chúng tôi chờ mong những luận điểm đưa ra trong bài viết được cho có cơ sở văn hóa, thì xin các tác giả người Việt khi viết thư pháp hay viết bài về lịch sử, văn hóa nước nhà bằng chữ Hán, hãy sử dụng chữ “Việt” có bộ mễ với lòng tự tôn và kiêu hãnh về nền văn hóa, văn minh của dân tộc mình. Với tình yêu nước, yêu văn hóa, văn hiến dân tộc, từ lâu cha ông ta chẳng đã rạch ròi phân định: Như nước Đại Việt ta từ trước / Vốn xưng nền văn hiến đã lâu / Núi sông bờ cõi đã chia / Phong tục Bắc Nam cũng khác… Và tuyên bố chủ quyền biển đảo khi đặt tên cho quần hai đảo Hoàng Sa, Trường Sa cùng Biển Đông, khác biệt hoàn toàn với những cái tên áp đặt Tây Sa, Nam Sa và biển Nam Trung Hoa, đó sao?!

ĐTK