Chekhov là nhà văn đầu tiên gán cho hàm ý một vai trò quan trọng trong việc truyền tải ý nghĩa cụ thể. Trong cùng câu chuyện về Lipa và con của cô, có hình ảnh người chồng lừa đảo bị đày đi lao động khổ sai. Trước đây, khi đang thành công trong những mưu đồ của mình, anh ta thường gửi thư về nhà với nét chữ đẹp. Anh ta tình cờ nhắc đến việc bạn mình là Samorodov viết thư giùm cho anh ta. Chúng ta không bao giờ gặp người bạn đó; nhưng khi người chồng bị đi đầy, người vợ nhận được những bức thư từ Siberi, được viết vẫn với nét chữ ấy. Truyện không kể thêm gì nữa, nhưng đã quá rõ ràng Samorodov là ai. Chính anh chồng đã đẩy bạn mình vào vòng lao lý và bây giờ người bạn cũng chịu hình phạt như anh ta.
Chưa từng có nhà văn nào tạo ra những nhân vật cảm động đến thế, nhưng lại không hề ủy mị, đến nỗi có thể tóm gọn trong một câu trích dẫn từ truyện ngắn "Trên xe ngựa": "Và thật khó hiểu," cô nghĩ, "tại sao Chúa lại ban vẻ đẹp, sự thân thiện, đôi mắt buồn bã, ngọt ngào này cho những người yếu đuối, bất hạnh, vô dụng, tại sao họ lại hấp dẫn đến vậy." Rồi có ông già say xỉn trong truyện ngắn "Công việc chính thức," lê bước hàng dặm đường trong tuyết với những việc vặt vãnh và vô nghĩa mà ông ta không thể và không muốn hiểu. Rồi có chàng trai trẻ trong truyện ngắn "Cuộc đời tôi," người đã rời bỏ ngôi nhà ấm cúng của mình để trở thành một họa sĩ nghèo khó vì không thể chịu đựng được sự tự mãn ngột ngạt, tàn nhẫn của cuộc sống tỉnh lẻ với những ngôi nhà xấu xí mà cha anh, một kiến trúc sư, đã xây dựng trên đường phố thành phố. Nhà văn nào có thể cưỡng lại được sự cám dỗ của một sự tương đồng bi kịch: người cha xây nhà, người con bị định mệnh phải sơn chúng. Nhưng Chekhov thậm chí không có thời gian để ám chỉ đến hoàn cảnh này, chứ đừng nói đến việc nhấn mạnh nó, do đó làm rách nát cấu trúc của câu chuyện. Trong câu chuyện "Ngôi nhà gác lửng", có một cô gái yếu đuối với cái tên khó phát âm trong tiếng Anh, Misyus yếu đuối, run rẩy trong chiếc áo mỏng manh giữa đêm thu, và người hùng của câu chuyện, khoác một chiếc áo khoác lên đôi vai yếu ớt của cô; và cuối cùng - cửa sổ bốc cháy và tình yêu phai nhạt của cô. Ở đây có ông lão trong "Ngôi nhà nghỉ mát mới", người không hiểu được lòng tốt vô ích, nửa vời của ông chủ đất lập dị, trong khi vẫn chúc phúc cho ông ta bằng cả tấm lòng; Và khi con gái của ông chủ, một cô bé hư hỏng với vẻ ngoài như búp bê, khóc vì cảm nhận được sự thù địch của những người nông dân, ông ta lấy một quả dưa chuột có vụn bánh mì dính vào từ túi ra và dí vào cô bé, nói: "Đừng khóc, bé con, nếu không mẹ sẽ mách bố, và bố sẽ đánh con" - và chúng ta có được một ý niệm chính xác về những chuẩn mực đạo đức ngự trị trong chính ngôi nhà của ông ta, mặc dù tác giả không giải thích và nhấn mạnh điều gì. Đây là cô giáo làng trong truyện "Trên xe ngựa", những giấc mơ cảm động của cô liên tục bị gián đoạn bởi những ổ gà hoặc tiếng gọi của người lái xe, một cách thô lỗ nhưng tốt bụng, gọi cô là "Vasilyevna". Và Lipa trong truyện ngắn nổi bật nhất của ông, "Trong khe núi", là một người phụ nữ nông dân hiền lành và ngây thơ, đứa con sơ sinh trần truồng của cô đã bị giết chết. Và thật tuyệt vời khi đoạn trước đó, khi đứa trẻ vẫn còn khỏe mạnh và vui vẻ, và người mẹ trẻ đang chơi với con - cô bước đến cửa, cúi chào con từ xa và nói, "Chào con, Nikifor Anisimovich", rồi chạy đến, ôm con và khóc nức nở. Và người lang thang bất hạnh trong cùng câu chuyện tuyệt vời đó, kể với Lipa về những chuyến lang thang khắp nước Nga của mình. Một ngày nọ, một quý ông đi ngang qua, có lẽ là một người lưu vong chính trị từ Moscow, gặp anh ta ở đâu đó trên sông Volga, nhìn thấy quần áo rách rưới, khuôn mặt gầy gò của anh ta và khóc: "Ôi, ông ấy nói, bánh mì của anh đen, ngày động khổ sai. Trước đây, khi đang thành công trong những mưu đồ của mình, anh ta thường gửi thư về nhà với nét chữ rất đẹp. Anh ta tình cờ nhắc đến việc người bạn Samorodov viết thư cho mình. Chúng ta không bao giờ gặp người bạn đó; nhưng khi chồng tôi bị kết án lao động khổ sai, những lá thư từ người bạn này bắt đầu đến từ Siberia, cũng với nét chữ tương tự. Không có gì được nói thêm, nhưng rõ ràng như ban ngày rằng dù người bạn Samorodov là ai, người đó cũng có liên quan đến tội ác của chồng tôi và hiện đang chịu cùng một bản án.
Một ông chủ xuất bản từng nói với tôi rằng mỗi nhà văn đều có một con số nhất định được khắc sâu đâu đó bên trong tâm tưởng, hay nói chính xác hơn, một số trang mà họ sẽ không vượt quá trong bất kỳ cuốn sách nào của mình. Tôi nhớ con số của tôi là 385. Chekhov không bao giờ có thể viết một cuốn tiểu thuyết thực sự dài – ông là một vận động viên chạy nước rút, chứ không phải một người chạy đường dài. Dường như Chekhov không thể duy trì sự tập trung vào mô hình cuộc sống mà thiên tài của ông đã nắm bắt được ở mọi nơi trong một thời gian dài. Ông chỉ có thể giữ được nét quyến rũ sống động của nó đủ lâu cho một truyện ngắn, nhưng ông không thể duy trì được chi tiết cần thiết cho một câu chuyện dài, phức tạp. Ngay cả tài năng kịch nghệ của ông cũng thuộc về một nhà văn truyện ngắn; những thiếu sót trong các vở kịch của ông giống như những thiếu sót sẽ trở nên rõ ràng nếu ông cố gắng viết tiểu thuyết hoàn chỉnh. Chekhov đã được so sánh với nhà văn Pháp hạng hai Maupassant, mà vì một lý do nào đó bị gọi là de Maupassant; mặc dù về mặt nghệ thuật, so sánh như vậy là một sự xúc phạm đối với Chekhov, nhưng họ có một điểm chung: cả hai đều mang hơi thở ngắn. Khi Maupassant ép mình phải bao quát những khoảng không gian vượt xa phạm vi tài năng tự nhiên của ông, để viết những cuốn tiểu thuyết như "Bel Ami" ("Người bạn thân yêu") hay "Une Vie" ("Cuộc đời"), tốt nhất chúng cũng chỉ là một loạt các câu chuyện được liên kết một cách giả tạo, khá không đồng đều và thiếu đi dòng chảy ngầm xuyên suốt cuốn sách. Đó lại là điều rất tự nhiên trong phong cách của những tiểu thuyết gia bẩm sinh như Flaubert hay Tolstoy. Ngoại trừ một sai lầm thời trẻ, Chekhov chưa bao giờ viết một cuốn sách nào dày cộp. Những tác phẩm dài nhất của ông như " Đấu súng" và "Ba năm", cũng là những truyện ngắn. Chekhov viết những cuốn sách buồn cho những người vui vẻ; ý tôi muốn nói rằng chỉ những độc giả có khiếu hài hước mới thực sự cảm nhận được nỗi buồn trong những cuốn sách ấy. Có những nhà văn tạo ra thanh âm giữa tiếng cười kìm nén và cái ngáp dài, nhiều người trong số họ là những nhà hài hước chuyên nghiệp. Ở những người khác, như Dickens, tạo ra thứ gì đó nằm giữa tiếng cười khúc khích và tiếng nức nở. Cũng có kiểu biến thái khủng khiếp của sự hài hước khi tác giả cố tình sử dụng để giảm bớt căng thẳng sau một cảnh bi thảm dữ dội, nhưng đây là một thủ thuật văn học cấp thấp. Sự hài hước của Chekhov khác biệt với tất cả những kiểu gây cười trên ; nó hoàn toàn mang phong cách Chekhov. Đối với ông, thế giới vừa hài hước vừa buồn bã, nhưng nếu bạn không nhận ra sự hài hước của nó, bạn sẽ không hiểu được nỗi buồn của nó, bởi vì chúng không thể tách rời nhau.
Các nhà phê bình Nga viết rằng cả phong cách của Chekhov, cả cách lựa chọn từ ngữ của ông, hay bất cứ điều gì khác, đều không chứng tỏ sự tỉ mỉ đặc biệt trong văn chương mà Gogol, Flaubert hay Henry James từng theo đuổi. Vốn từ vựng của Chekhov nghèo nàn, cách kết hợp từ ngữ gần như tầm thường; một động từ hoa mỹ, một tính từ rực rỡ, một biệt danh ngọt ngào, được bày biện trên đĩa bạc – tất cả đều xa lạ với ông. Chekhov không phải là một bậc thầy về ngôn từ như Gogol; nàng thơ của ông luôn khoác lên mình trang phục đời thường. Chính vì thế, Chekhov rất đáng được dẫn ra làm ví dụ về việc một người có thể là một nghệ sĩ hoàn hảo mà không cần có kỹ thuật ngôn từ xuất sắc, không cần sự chăm chút đặc biệt cho những đường nét uyển chuyển của câu văn. Khi Turgenev bắt đầu quan tâm đến phong cảnh, người ta có thể thấy ông bận tâm tới từ độ phẳng phiu của nếp quần; cái bắt chéo chân, ông lén nhìn tới cả màu tất. Chekhov không quan tâm đến điều này, không phải vì những chi tiết như thế không quan trọng-đối với những nhà văn thuộc một kiểu người nhất định, chúng là tự nhiên và rất quan trọng – mà chỉ bởi vì, về bản chất, Chekhov xa lạ với bất kỳ sự sáng tạo nào về ngôn từ. Ngay cả một lỗi ngữ pháp nhỏ hay một câu nói sáo rỗng trên báo cũng không làm ông bận tâm chút nào. Phép màu trong nghệ thuật của Chekhov là ở chỗ bất chấp sự khoan dung của ông đối với những lỗi sai mà một người mới bắt đầu nổi tiếng dễ dàng vồ lấy, bất chấp sẵn sàng hài lòng với từ đầu tiên ông bắt gặp, Chekhov biết cách truyền tải cảm giác về vẻ đẹp mà nhiều nhà văn hoàn toàn không thể đạt được, khi nghĩ rằng họ gắng trau chuốt để đạt tới thứ văn chương sang trọng, trau chuốt. . Chekhov đạt tới điều muốn tới bằng cách chiếu sáng tất cả các từ cùng một thứ ánh sáng mờ, phú cho chúng cùng một tone xám - một gam màu trung gian giữa màu của hàng rào đổ nát và màu của một đám mây lơ lửng. Sự đa dạng về ngữ điệu, sự lấp lánh của giọng mỉa mai tinh tế, sự tiết chế đầy tính nghệ thuật trong việc khắc họa nhân vật, độ rực rỡ của các chi tiết, sự phai nhạt của cuộc sống con người - tất cả những đặc điểm thuần túy Chekhov này đều được đổ ngập tràn và nhấn chìm trong một màn sương ngôn từ mờ ảo, đầy màu sắc cầu vồng.
Sự điềm tĩnh và khiếu hài hước tinh tế của Chekhov thấm đẫm vào những cuộc sống tẻ nhạt mà ông tạo ra. Đối với các nhà phê bình triết học và xã hội Nga, ông trở thành hiện thân không thể bắt chước được của một kiểu người Nga độc đáo. Thật khó để tôi giải thích kiểu người này, vì nó gắn liền mật thiết với lịch sử tâm lý và xã hội của nước Nga thế kỷ 19. Nói rằng Chekhov bị ám ảnh bởi những con người hiền lành và bất lực thì không chính xác. Chính xác hơn, những người đàn ông, những người đàn bà của Chekhov hiền lành chính bởi vì họ bất lực. Nhưng điều thực sự thu hút độc giả Nga là ở chỗ họ nhận ra trong các nhân vật của Chekhov kiểu những người trí thức Nga, những nhà tư tưởng Nga, những sinh vật kỳ quặc và cảm động, ít được biết đến ở nước ngoài và không thể tồn tại ở Liên Xô.
Người trí thức của Chekhov là một người kết hợp sự đứng đắn sâu sắc với sự bất lực gần như nực cười trong việc hiện thực những lý tưởng, những nguyên tắc của mình; một người tận tâm với vẻ đẹp đạo đức và lợi ích của toàn nhân loại, nhưng không có khả năng làm bất cứ điều gì đáng giá trong cuộc sống riêng tư; nhấn chìm cuộc sống tỉnh lẻ của mình vào màn sương mù của những giấc mơ không tưởng. Họ biết chính xác điều gì là tốt, điều gì đáng sống, nhưng lại ngày càng chìm sâu vào vũng lầy của một cuộc sống tẻ nhạt, bất hạnh trong tình yêu; một kẻ thất bại vô vọng trong mọi lĩnh vực, một người tốt bụng nhưng không có khả năng làm điều tốt. Đó là hình mẫu nhân vật xuất hiện trong tất cả các truyện ngắn của Chekhov, dưới hình dạng ông bác sĩ, chàng sinh viên, ông giáo làng và những người thuộc các ngành nghề khác.
Các nhà phê bình bị chính trị hóa đã phẫn nộ vì các nhân vật ấy không thuộc một đảng phái nào cụ thể và tác giả không cung cấp cho họ một chương trình hành động rõ ràng. Nhưng đó chính lại là điểm mấu chốt. Những trí thức bất lực của Chekhov không phải là những kẻ khủng bố, cũng không phải những là đảng viên Dân chủ Xã hội, càng không phải là những người Bolshevik tương lai, hay bất kỳ thành viên nào khác trong vô số đảng phái của Nga. Điều quan trọng nhân vật điển hình của Chekhov là một người bảo vệ chân lý phổ quát bất thành, người đã đặt lên vai một gánh nặng mà anh ta không thể chịu đựng mà cũng không thể rũ bỏ được. Tất cả các truyện ngắn của Chekhov đều là một sự vấp ngã liên tục, nhưng người vấp ngã trong đó là một người đàn ông lạc lối trong việc ngắm nhìn những vì sao. Anh ta luôn bất hạnh và khiến người khác bất hạnh; anh ta yêu thương không phải là những người hàng xóm, không phải những người ở gần, mà là những người ở xa. Nỗi đau khổ của người da đen ở nước ngoài, của người phu khuân vác Trung Quốc, của người lao động vùng Ural khiến anh ta đau lòng hơn cả những bất hạnh của người hàng xóm hay nỗi bất hạnh của bà vợ. Chekhov tìm thấy niềm vui đặc biệt của một nhà văn khi ghi lại những biến thể nhỏ nhất của kiểu trí thức Nga thời tiền chiến, tiền cách mạng. Những người như vậy có thể mơ mộng, nhưng họ không thể điều khiển. Họ hủy hoại cuộc đời của chính mình và của người khác, họ ngu ngốc, yếu đuối, hay cằn nhằn, hay lên cuồng loạn; nhưng đằng sau tất cả điều đó, ta nghe thấy ở Chekhov lời nói này : thật may mắn cho đất nước nào có thể sinh ra kiểu người như vậy. Họ bỏ lỡ cơ hội, họ né tránh hành động, họ thức trắng đêm, tưởng tượng ra những thế giới mà họ không thể xây dựng nổi. Nhưng chính sự tồn tại của những con người như vậy, những người tràn đầy lòng vị tha nhiệt thành, sự thanh khiết về tinh thần và phẩm chất đạo đức cao cả—chỉ riêng việc những con người đó đã từng sống và có lẽ vẫn đang sống ở đâu đó trong nước Nga tàn nhẫn và xấu xa ngày nay—đã là lời hứa về một tương lai tốt đẹp hơn cho toàn thế giới. Bởi vì trong tất cả các quy luật tự nhiên, có lẽ điều đáng chú ý nhất là sự sống sót của nhưng người yếu ớt.
Từ góc nhìn này, Chekhov được đánh giá cao bởi những người cùng quan tâm đến những bất hạnh của người dân Nga và vinh quang của văn học Nga. Không để tâm đến các cấu trúc xã hội hay đạo đức, thiên tài của Chekhov đã phơi bày nhiều hơn những mặt tối tăm nhất, mù mịt nhất của tầng lớp nông dân đói khổ, hoang mang, bị nô dịch và bất hạnh.
Nước Nga khác lạ hơn so với những gì nhiều nhà văn kiểu Gorky - những người trình bày các ý tưởng xã hội bằng những con rối được tô vẽ- đã miêu tả. Tôi sẽ nói thêm: bất cứ ai thích Dostoevsky hay Gorky hơn Chekhov sẽ không bao giờ hiểu được bản chất của văn học Nga, đời sống Nga, và quan trọng hơn, bản chất của nghệ thuật văn học nói chung. Người Nga có một trò chơi: chia những người quen biết của họ thành hai phe: người ủng hộ Chekhov và người phản đối Chekhov. Những người không thích Chekhov bị coi là loại người không đúng đắn. Tôi chân thành khuyên bạn nên đọc sách của Chekhov thường xuyên hơn (kể cả những bản dịch đã bị bỏ qua), để bạn có thể quên đi bản thân và trải nghiệm những giấc mơ cổ tích này như những tích chuyện ấy đã được nẩy sinh. Trong thời đại của những gã khổng lồ Goliat đầy sức mạnh, thật hữu ích khi nhớ đến những chàng David yếu đuối. Những vùng đất hoang vu, những cây liễu khô héo sống dựa vào những con đường lầy lội buồn tẻ, những con quạ xám xé ngang bầu trời u ám, ký ức bất chợt ùa về từ những góc khuất tăm tối nhất – tất cả sự tẻ nhạt đầy xúc động này, tất cả sự yếu đuối kỳ diệu này, tất cả cái thế giới Chekhov- hóa hay nhăn nhó, càu nhàu, không hấp dẫn này đều đáng được gìn giữ giữa sự hào nhoáng của những thế giới hùng mạnh, trâng tráo mà những kẻ ngưỡng mộ các chế độ toàn trị hứa hẹn với chúng ta…
Chekhov là nhà văn đầu tiên gán cho hàm ý một vai trò quan trọng trong việc truyền tải ý nghĩa cụ thể. Trong cùng câu chuyện về Lipa và con của cô, có hình ảnh người chồng lừa đảo bị đày đi lao động khổ sai. Trước đây, khi đang thành công trong những mưu đồ của mình, anh ta thường gửi thư về nhà với nét chữ đẹp. Anh ta tình cờ nhắc đến việc bạn mình là Samorodov viết thư giùm cho anh ta. Chúng ta không bao giờ gặp người bạn đó; nhưng khi người chồng bị đi đầy, người vợ nhận được những bức thư từ Siberi, được viết vẫn với nét chữ ấy. Truyện không kể thêm gì nữa, nhưng đã quá rõ ràng Samorodov là ai. Chính anh chồng đã đẩy bạn mình vào vòng lao lý và bây giờ người bạn cũng chịu hình phạt như anh ta.
Chưa từng có nhà văn nào tạo ra những nhân vật cảm động đến thế, nhưng lại không hề ủy mị, đến nỗi có thể tóm gọn trong một câu trích dẫn từ truyện ngắn "Trên xe ngựa": "Và thật khó hiểu," cô nghĩ, "tại sao Chúa lại ban vẻ đẹp, sự thân thiện, đôi mắt buồn bã, ngọt ngào này cho những người yếu đuối, bất hạnh, vô dụng, tại sao họ lại hấp dẫn đến vậy." Rồi có ông già say xỉn trong truyện ngắn "Công việc chính thức," lê bước hàng dặm đường trong tuyết với những việc vặt vãnh và vô nghĩa mà ông ta không thể và không muốn hiểu. Rồi có chàng trai trẻ trong truyện ngắn "Cuộc đời tôi," người đã rời bỏ ngôi nhà ấm cúng của mình để trở thành một họa sĩ nghèo khó vì không thể chịu đựng được sự tự mãn ngột ngạt, tàn nhẫn của cuộc sống tỉnh lẻ với những ngôi nhà xấu xí mà cha anh, một kiến trúc sư, đã xây dựng trên đường phố thành phố. Nhà văn nào có thể cưỡng lại được sự cám dỗ của một sự tương đồng bi kịch: người cha xây nhà, người con bị định mệnh phải sơn chúng. Nhưng Chekhov thậm chí không có thời gian để ám chỉ đến hoàn cảnh này, chứ đừng nói đến việc nhấn mạnh nó, do đó làm rách nát cấu trúc của câu chuyện. Trong câu chuyện "Ngôi nhà gác lửng", có một cô gái yếu đuối với cái tên khó phát âm trong tiếng Anh, Misyus yếu đuối, run rẩy trong chiếc áo mỏng manh giữa đêm thu, và người hùng của câu chuyện, khoác một chiếc áo khoác lên đôi vai yếu ớt của cô; và cuối cùng - cửa sổ bốc cháy và tình yêu phai nhạt của cô. Ở đây có ông lão trong "Ngôi nhà nghỉ mát mới", người không hiểu được lòng tốt vô ích, nửa vời của ông chủ đất lập dị, trong khi vẫn chúc phúc cho ông ta bằng cả tấm lòng; Và khi con gái của ông chủ, một cô bé hư hỏng với vẻ ngoài như búp bê, khóc vì cảm nhận được sự thù địch của những người nông dân, ông ta lấy một quả dưa chuột có vụn bánh mì dính vào từ túi ra và dí vào cô bé, nói: "Đừng khóc, bé con, nếu không mẹ sẽ mách bố, và bố sẽ đánh con" - và chúng ta có được một ý niệm chính xác về những chuẩn mực đạo đức ngự trị trong chính ngôi nhà của ông ta, mặc dù tác giả không giải thích và nhấn mạnh điều gì. Đây là cô giáo làng trong truyện "Trên xe ngựa", những giấc mơ cảm động của cô liên tục bị gián đoạn bởi những ổ gà hoặc tiếng gọi của người lái xe, một cách thô lỗ nhưng tốt bụng, gọi cô là "Vasilyevna". Và Lipa trong truyện ngắn nổi bật nhất của ông, "Trong khe núi", là một người phụ nữ nông dân hiền lành và ngây thơ, đứa con sơ sinh trần truồng của cô đã bị giết chết. Và thật tuyệt vời khi đoạn trước đó, khi đứa trẻ vẫn còn khỏe mạnh và vui vẻ, và người mẹ trẻ đang chơi với con - cô bước đến cửa, cúi chào con từ xa và nói, "Chào con, Nikifor Anisimovich", rồi chạy đến, ôm con và khóc nức nở. Và người lang thang bất hạnh trong cùng câu chuyện tuyệt vời đó, kể với Lipa về những chuyến lang thang khắp nước Nga của mình. Một ngày nọ, một quý ông đi ngang qua, có lẽ là một người lưu vong chính trị từ Moscow, gặp anh ta ở đâu đó trên sông Volga, nhìn thấy quần áo rách rưới, khuôn mặt gầy gò của anh ta và khóc: "Ôi, ông ấy nói, bánh mì của anh đen, ngày tháng của anh đen tối..."
Chekhov là nhà văn đầu tiên gán cho hàm ý một vai trò quan trọng trong việc truyền tải ý nghĩa cụ thể. Trong cùng câu chuyện về Lipa và con gái, có hình ảnh người chồng lừa đảo bị đày đi lao động khổ sai. Trước đây, khi đang thành công trong những mưu đồ của mình, anh ta thường gửi thư về nhà với nét chữ rất đẹp. Anh ta tình cờ nhắc đến việc người bạn Samorodov viết thư cho mình. Chúng ta không bao giờ gặp người bạn đó; nhưng khi chồng tôi bị kết án lao động khổ sai, những lá thư từ người bạn này bắt đầu đến từ Siberia, cũng với nét chữ tương tự. Không có gì được nói thêm, nhưng rõ ràng như ban ngày rằng dù người bạn Samorodov là ai, người đó cũng có liên quan đến tội ác của chồng tôi và hiện đang chịu cùng một bản án.
Một ông chủ xuất bản từng nói với tôi rằng mỗi nhà văn đều có một con số nhất định được khắc sâu đâu đó bên trong tâm tưởng, hay nói chính xác hơn, một số trang mà họ sẽ không vượt quá trong bất kỳ cuốn sách nào của mình. Tôi nhớ con số của tôi là 385. Chekhov không bao giờ có thể viết một cuốn tiểu thuyết thực sự dài – ông là một vận động viên chạy nước rút, chứ không phải một người chạy đường dài. Dường như Chekhov không thể duy trì sự tập trung vào mô hình cuộc sống mà thiên tài của ông đã nắm bắt được ở mọi nơi trong một thời gian dài. Ông chỉ có thể giữ được nét quyến rũ sống động của nó đủ lâu cho một truyện ngắn, nhưng ông không thể duy trì được chi tiết cần thiết cho một câu chuyện dài, phức tạp. Ngay cả tài năng kịch nghệ của ông cũng thuộc về một nhà văn truyện ngắn; những thiếu sót trong các vở kịch của ông giống như những thiếu sót sẽ trở nên rõ ràng nếu ông cố gắng viết tiểu thuyết hoàn chỉnh. Chekhov đã được so sánh với nhà văn Pháp hạng hai Maupassant, mà vì một lý do nào đó bị gọi là de Maupassant; mặc dù về mặt nghệ thuật, so sánh như vậy là một sự xúc phạm đối với Chekhov, nhưng họ có một điểm chung: cả hai đều mang hơi thở ngắn. Khi Maupassant ép mình phải bao quát những khoảng không gian vượt xa phạm vi tài năng tự nhiên của ông, để viết những cuốn tiểu thuyết như "Bel Ami" ("Người bạn thân yêu") hay "Une Vie" ("Cuộc đời"), tốt nhất chúng cũng chỉ là một loạt các câu chuyện được liên kết một cách giả tạo, khá không đồng đều và thiếu đi dòng chảy ngầm xuyên suốt cuốn sách. Đó lại là điều rất tự nhiên trong phong cách của những tiểu thuyết gia bẩm sinh như Flaubert hay Tolstoy. Ngoại trừ một sai lầm thời trẻ, Chekhov chưa bao giờ viết một cuốn sách nào dày cộp. Những tác phẩm dài nhất của ông như " Đấu súng" và "Ba năm", cũng là những truyện ngắn. Chekhov viết những cuốn sách buồn cho những người vui vẻ; ý tôi muốn nói rằng chỉ những độc giả có khiếu hài hước mới thực sự cảm nhận được nỗi buồn trong những cuốn sách ấy. Có những nhà văn tạo ra thanh âm giữa tiếng cười kìm nén và cái ngáp dài, nhiều người trong số họ là những nhà hài hước chuyên nghiệp. Ở những người khác, như Dickens, tạo ra thứ gì đó nằm giữa tiếng cười khúc khích và tiếng nức nở. Cũng có kiểu biến thái khủng khiếp của sự hài hước khi tác giả cố tình sử dụng để giảm bớt căng thẳng sau một cảnh bi thảm dữ dội, nhưng đây là một thủ thuật văn học cấp thấp. Sự hài hước của Chekhov khác biệt với tất cả những kiểu gây cười trên ; nó hoàn toàn mang phong cách Chekhov. Đối với ông, thế giới vừa hài hước vừa buồn bã, nhưng nếu bạn không nhận ra sự hài hước của nó, bạn sẽ không hiểu được nỗi buồn của nó, bởi vì chúng không thể tách rời nhau.
Các nhà phê bình Nga viết rằng cả phong cách của Chekhov, cả cách lựa chọn từ ngữ của ông, hay bất cứ điều gì khác, đều không chứng tỏ sự tỉ mỉ đặc biệt trong văn chương mà Gogol, Flaubert hay Henry James từng theo đuổi. Vốn từ vựng của Chekhov nghèo nàn, cách kết hợp từ ngữ gần như tầm thường; một động từ hoa mỹ, một tính từ rực rỡ, một biệt danh ngọt ngào, được bày biện trên đĩa bạc – tất cả đều xa lạ với ông. Chekhov không phải là một bậc thầy về ngôn từ như Gogol; nàng thơ của ông luôn khoác lên mình trang phục đời thường. Chính vì thế, Chekhov rất đáng được dẫn ra làm ví dụ về việc một người có thể là một nghệ sĩ hoàn hảo mà không cần có kỹ thuật ngôn từ xuất sắc, không cần sự chăm chút đặc biệt cho những đường nét uyển chuyển của câu văn. Khi Turgenev bắt đầu quan tâm đến phong cảnh, người ta có thể thấy ông bận tâm tới từ độ phẳng phiu của nếp quần; cái bắt chéo chân, ông lén nhìn tới cả màu tất. Chekhov không quan tâm đến điều này, không phải vì những chi tiết như thế không quan trọng-đối với những nhà văn thuộc một kiểu người nhất định, chúng là tự nhiên và rất quan trọng – mà chỉ bởi vì, về bản chất, Chekhov xa lạ với bất kỳ sự sáng tạo nào về ngôn từ. Ngay cả một lỗi ngữ pháp nhỏ hay một câu nói sáo rỗng trên báo cũng không làm ông bận tâm chút nào. Phép màu trong nghệ thuật của Chekhov là ở chỗ bất chấp sự khoan dung của ông đối với những lỗi sai mà một người mới bắt đầu nổi tiếng dễ dàng vồ lấy, bất chấp sẵn sàng hài lòng với từ đầu tiên ông bắt gặp, Chekhov biết cách truyền tải cảm giác về vẻ đẹp mà nhiều nhà văn hoàn toàn không thể đạt được, khi nghĩ rằng họ gắng trau chuốt để đạt tới thứ văn chương sang trọng, trau chuốt. . Chekhov đạt tới điều muốn tới bằng cách chiếu sáng tất cả các từ cùng một thứ ánh sáng mờ, phú cho chúng cùng một tone xám - một gam màu trung gian giữa màu của hàng rào đổ nát và màu của một đám mây lơ lửng. Sự đa dạng về ngữ điệu, sự lấp lánh của giọng mỉa mai tinh tế, sự tiết chế đầy tính nghệ thuật trong việc khắc họa nhân vật, độ rực rỡ của các chi tiết, sự phai nhạt của cuộc sống con người - tất cả những đặc điểm thuần túy Chekhov này đều được đổ ngập tràn và nhấn chìm trong một màn sương ngôn từ mờ ảo, đầy màu sắc cầu vồng.
Sự điềm tĩnh và khiếu hài hước tinh tế của Chekhov thấm đẫm vào những cuộc sống tẻ nhạt mà ông tạo ra. Đối với các nhà phê bình triết học và xã hội Nga, ông trở thành hiện thân không thể bắt chước được của một kiểu người Nga độc đáo. Thật khó để tôi giải thích kiểu người này, vì nó gắn liền mật thiết với lịch sử tâm lý và xã hội của nước Nga thế kỷ 19. Nói rằng Chekhov bị ám ảnh bởi những con người hiền lành và bất lực thì không chính xác. Chính xác hơn, những người đàn ông, những người đàn bà của Chekhov hiền lành chính bởi vì họ bất lực. Nhưng điều thực sự thu hút độc giả Nga là ở chỗ họ nhận ra trong các nhân vật của Chekhov kiểu những người trí thức Nga, những nhà tư tưởng Nga, những sinh vật kỳ quặc và cảm động, ít được biết đến ở nước ngoài và không thể tồn tại ở Liên Xô.
Người trí thức của Chekhov là một người kết hợp sự đứng đắn sâu sắc với sự bất lực gần như nực cười trong việc hiện thực những lý tưởng, những nguyên tắc của mình; một người tận tâm với vẻ đẹp đạo đức và lợi ích của toàn nhân loại, nhưng không có khả năng làm bất cứ điều gì đáng giá trong cuộc sống riêng tư; nhấn chìm cuộc sống tỉnh lẻ của mình vào màn sương mù của những giấc mơ không tưởng. Họ biết chính xác điều gì là tốt, điều gì đáng sống, nhưng lại ngày càng chìm sâu vào vũng lầy của một cuộc sống tẻ nhạt, bất hạnh trong tình yêu; một kẻ thất bại vô vọng trong mọi lĩnh vực, một người tốt bụng nhưng không có khả năng làm điều tốt. Đó là hình mẫu nhân vật xuất hiện trong tất cả các truyện ngắn của Chekhov, dưới hình dạng ông bác sĩ, chàng sinh viên, ông giáo làng và những người thuộc các ngành nghề khác.
Các nhà phê bình bị chính trị hóa đã phẫn nộ vì các nhân vật ấy không thuộc một đảng phái nào cụ thể và tác giả không cung cấp cho họ một chương trình hành động rõ ràng. Nhưng đó chính lại là điểm mấu chốt. Những trí thức bất lực của Chekhov không phải là những kẻ khủng bố, cũng không phải những là đảng viên Dân chủ Xã hội, càng không phải là những người Bolshevik tương lai, hay bất kỳ thành viên nào khác trong vô số đảng phái của Nga. Điều quan trọng nhân vật điển hình của Chekhov là một người bảo vệ chân lý phổ quát bất thành, người đã đặt lên vai một gánh nặng mà anh ta không thể chịu đựng mà cũng không thể rũ bỏ được. Tất cả các truyện ngắn của Chekhov đều là một sự vấp ngã liên tục, nhưng người vấp ngã trong đó là một người đàn ông lạc lối trong việc ngắm nhìn những vì sao. Anh ta luôn bất hạnh và khiến người khác bất hạnh; anh ta yêu thương không phải là những người hàng xóm, không phải những người ở gần, mà là những người ở xa. Nỗi đau khổ của người da đen ở nước ngoài, của người phu khuân vác Trung Quốc, của người lao động vùng Ural khiến anh ta đau lòng hơn cả những bất hạnh của người hàng xóm hay nỗi bất hạnh của bà vợ. Chekhov tìm thấy niềm vui đặc biệt của một nhà văn khi ghi lại những biến thể nhỏ nhất của kiểu trí thức Nga thời tiền chiến, tiền cách mạng. Những người như vậy có thể mơ mộng, nhưng họ không thể điều khiển. Họ hủy hoại cuộc đời của chính mình và của người khác, họ ngu ngốc, yếu đuối, hay cằn nhằn, hay lên cuồng loạn; nhưng đằng sau tất cả điều đó, ta nghe thấy ở Chekhov lời nói này : thật may mắn cho đất nước nào có thể sinh ra kiểu người như vậy. Họ bỏ lỡ cơ hội, họ né tránh hành động, họ thức trắng đêm, tưởng tượng ra những thế giới mà họ không thể xây dựng nổi. Nhưng chính sự tồn tại của những con người như vậy, những người tràn đầy lòng vị tha nhiệt thành, sự thanh khiết về tinh thần và phẩm chất đạo đức cao cả—chỉ riêng việc những con người đó đã từng sống và có lẽ vẫn đang sống ở đâu đó trong nước Nga tàn nhẫn và xấu xa ngày nay—đã là lời hứa về một tương lai tốt đẹp hơn cho toàn thế giới. Bởi vì trong tất cả các quy luật tự nhiên, có lẽ điều đáng chú ý nhất là sự sống sót của nhưng người yếu ớt.
Từ góc nhìn này, Chekhov được đánh giá cao bởi những người cùng quan tâm đến những bất hạnh của người dân Nga và vinh quang của văn học Nga. Không để tâm đến các cấu trúc xã hội hay đạo đức, thiên tài của Chekhov đã phơi bày nhiều hơn những mặt tối tăm nhất, mù mịt nhất của tầng lớp nông dân đói khổ, hoang mang, bị nô dịch và bất hạnh.
Nước Nga khác lạ hơn so với những gì nhiều nhà văn kiểu Gorky - những người trình bày các ý tưởng xã hội bằng những con rối được tô vẽ- đã miêu tả. Tôi sẽ nói thêm: bất cứ ai thích Dostoevsky hay Gorky hơn Chekhov sẽ không bao giờ hiểu được bản chất của văn học Nga, đời sống Nga, và quan trọng hơn, bản chất của nghệ thuật văn học nói chung. Người Nga có một trò chơi: chia những người quen biết của họ thành hai phe: người ủng hộ Chekhov và người phản đối Chekhov. Những người không thích Chekhov bị coi là loại người không đúng đắn. Tôi chân thành khuyên bạn nên đọc sách của Chekhov thường xuyên hơn (kể cả những bản dịch đã bị bỏ qua), để bạn có thể quên đi bản thân và trải nghiệm những giấc mơ cổ tích này như những tích chuyện ấy đã được nẩy sinh. Trong thời đại của những gã khổng lồ Goliat đầy sức mạnh, thật hữu ích khi nhớ đến những chàng David yếu đuối. Những vùng đất hoang vu, những cây liễu khô héo sống dựa vào những con đường lầy lội buồn tẻ, những con quạ xám xé ngang bầu trời u ám, ký ức bất chợt ùa về từ những góc khuất tăm tối nhất – tất cả sự tẻ nhạt đầy xúc động này, tất cả sự yếu đuối kỳ diệu này, tất cả cái thế giới Chekhov- hóa hay nhăn nhó, càu nhàu, không hấp dẫn này đều đáng được gìn giữ giữa sự hào nhoáng của những thế giới hùng mạnh, trâng tráo mà những kẻ ngưỡng mộ các chế độ toàn trị hứa hẹn với chúng ta….
( TÔ HOÀNG chọn và chuyển ngữ )