Quê gốc làng Lai Xá, Hoài Đức, Hà Nội, cái nôi của nền nghệ thuật nhiếp ảnh Việt Nam, nhưng nhà thơ Phi Tuyết Ba sinh ra và lớn lên bên dòng Nhật Lệ, Quảng Bình. Địa văn hóa, sự trong xanh dạt dào của dòng sông huyền thoại và thơ mộng như mạch nguồn của thơ chị, một giọng thơ giàu thiên tính nữ, nhiều dư ba và sóng sánh. Ưu tư và thao thiết, nghiệm sinh và lòng lành, thơ chị phúc âm trong lòng sinh ngữ.
Bên mái nhà thờ như cất cánh trong mơ, bên nhành hoa vẫn đỏ thắm gai đêm, nhà giáo, nhà thơ Phi Tuyết Ba vẫn còn nhớ bài thơ đầu tiên viết về Đồng Hới thuở lên mười. Vừa làm toán, vừa làm thơ, với chị, thơ “chẳng cần son phấn, mốt thời trang/ càng không cần vương miện ngai vàng”. Là đồng nghiệp dạy học, tôi yêu thích “Vùng phấn bay” của chị. Trong bài thơ này có một cặp lục bát viết về nghề cầm phấn thật đẹp và cảm động: “Nước trôi về nẻo vô cùng/ Thương thầy ở lại một vùng phấn bay”. Sinh ra và lớn lên nơi gần cửa biển, nhưng từ khi học đại học và ra trường công tác, chị sống và làm việc phần lớn thời gian ở Hà Nội. Ra với biển, trở lại với ngàn năm văn hiến, sự giao thoa của hai miền ấy, phải chăng đã mang lại phong vị riêng biệt cho thơ Phi Tuyết Ba. Vừa trầm huyền, vừa nồng nàn chân ái. Nhân ái là cái gốc của chữ nghĩa: “Mở tay… chờ đón giọt sương/ Lòng thầm… viết một chữ thương lên hồ”. Nhưng, căn tính vẫn là yếu tố quyết định để làm nên tạng thơ.
Cảm quan giới và sự trải nghiệm làm nên cái tôi trữ tình, vừa đằm thắm, vừa chênh chao dâu bể. Thơ Phi Tuyết Ba lặng thầm mà lan tỏa. Như bóng hình của tâm tưởng, “Có điều gì đó” khó gọi thành tên, thi ca như được viết trong “hình như”, trong “điều mách bảo”: “Đất trời vừa đủ mênh mông/ Cái hình như… đủ cho sông dạt dào/ Đủ cho biển chớm ngọt ngào/ Đủ cho muôn triệu vì sao tỏ, mờ”. “Nhiều khi người ta có thể sống và đứng thẳng được/ Chỉ nhờ vào một vẻ đẹp mong manh”: “Sao im lặng thế/ Bông hoa cô đơn?”, “Cô đơn làm chiếc gối đêm kê đầu”, “Nhìn đâu cũng thấy vội vàng/ Nhìn đâu cũng thấy người đông/ Nhìn đâu cũng thấy… như không có mình”. Trong đời sống chộn rộn, trong những đám đông cứ trôi nổi xô dạt đâu đây, với người cầm bút, với thi nhân, có đủ cô đơn không để viết? “Đêm qua trời đất yên bình/ Đêm qua… chỉ có một mình tôi mưa”. Tôi đã lắng lại trước cặp lục bát này. Ngoài kia, con ngõ nhỏ chìm vào đêm khuya, nhòa đi trong cơn mưa chuyển mùa, có bóng ai đang lặng lẽ tới… mình.
Tình yêu và hạnh phúc là câu chuyện muôn thuở của thi ca. Cũng viết về đề tài ấy, nhưng thơ Phi Tuyết Ba vừa ưu tư suy tưởng, vừa trong trẻo bao dung. Gương mặt tình yêu trong thơ chị hiện lên tinh tế và nhạy cảm. “Phía bên kia đôi guốc” có “điều ấy không bao giờ anh biết/ có một lần em lỡ hẹn với anh/ bên bậc cửa có một đôi guốc đỏ/ đôi chân em sao khó bước qua”. Không sướt mướt, không trữ tình giàn giụa, như chính con người mình, diễn ngôn thơ tình Phi Tuyết Ba sâu lắng, vượt qua tục lụy, đó là “những câu thơ ban đêm hiện giữa ban ngày/ bên một bình hoa đẹp”. Trời vẫn mong manh xanh. Cái tôi bản thể thiên tính nữ như nhành phong lan bên vách núi, thơ chị thường mở ra khoảng trống tình thế tồn tại của cái đẹp, hình bóng của trữ tình: “Những người yêu nhau thường lạc nhau”, “Người thơ còn đứng trên gai/ Còn cầm bút lửa viết bài thơ đau”. “Đêm hồng tú cầu” soi sáng một tình yêu trong “Đêm thanh khiết nở đầy hoa trắng/ Ta hạnh phúc bởi mình dịu dàng và im lặng như hoa”. Khi nói tới tình yêu trong thơ Việt hiện đại, không thể không nói tới “Trăng khuyết” của Phi Tuyết Ba: “Sao anh lại ngỏ lời/ Vào một đêm trăng khuyết/ Để bây giờ thầm tiếc/ Một vầng trăng không tròn”. Sự đồng cảm và đồng điệu không chỉ là câu chuyện của tình yêu: “Sóng mà chẳng ở cùng sông/ Thì lên ở với viển vông trên bờ”. Còn đây là cảm giác khi “chung ô”: “Đường quê đi chật hai người/ Chưa thân mà dám đi đôi… cũng liều”.
Có thể nói, vẻ đẹp thơ Phi Tuyết Ba thường hiện lên ở miền im lặng của hoa, của màu trắng, của vầng trăng bên trời. Như trích diễm của tâm cảm, có nhiều câu và bài neo lại giữa phôi pha: “Giờ chỉ còn im lặng/ Nghe được lòng ta thôi/ Giờ chỉ còn màu trắng/ Hiểu nỗi đau con người”, “Chút lặng lẽ chắt ra từ ồn ã/ Người vẫn thế dịu dàng cúi xuống/ Chút nữa thôi… người sẽ hóa xương rồng”. Cái đẹp thường hiện lên rõ nhất trong khoảnh khắc. Có những câu thơ như ánh lên những sat na đẹp mà ám ảnh. Với khả năng nhìn sâu vào hiện thực, thấm thía sự đời và lẽ người, có cái nhìn như thấu đáo về giới hạn, viết trong tín niệm về sự lặng lẽ của cái đẹp. Khi “Viên ngọc/ Cần một khoảng lặng/ Để trong”, thơ trở nên kiệm lời. Luôn có xu hướng đi tìm cái tinh trong, thơ Phi Tuyết Ba mang vẻ đẹp thiên lương. Bên ô cửa đời sống, góc nhìn luôn mở rộng. Chặng sau của hành trình thi ca, thơ chị được viết khi “cuốn Kinh thánh mở ra” trong niềm thánh khiết. Giữa “hội chợ phù hoa”, chữ nghĩa độc hành về phía ban mai, để tìm câu thơ như giọt sương trên lá sen hừng sáng: “Tôi đi tìm bạn tri âm/ Lên non lặng đứng… mong thầm hóa cây”, “Mọi người lên núi đọc kinh/ Còn tôi lên núi nộp mình cho sương”.
Hài hòa cảm và nghĩ. Thơ không nghiêng vào giãi bày như thường thấy, chữ nghĩa trở nên ý vị. Nghĩ trong cảm và cảm trong nghĩ. Sâu sắc mà trữ tình, qua nắng gió còn lại điều trong trắng, thơ chị thường bắt đầu từ muối. Có thể nói, trong thơ nữ Việt, phẩm chất này không nhiều. Cách biểu đạt ấy tạo ra bản sắc riêng. Đây là bài thơ được viết “Ở quán cơm chay”: “Nào ta uống bia Heiniken với đá/ Với cá chiên, giò chả giả vờ này/ Ờ chẳng biết cái gì là thật nữa/ Phố vào đêm hay đĩa cá chay?...”. Đã có nhiều tác giả viết về nàng Tô Thị bồng con hóa đá chờ chồng, nhưng trong góc nhìn của mình, với sự nhạy cảm của một người mẹ, nhà thơ Phi Tuyết Ba như nhắn gửi: “Sau nàng còn ai hóa đá/ Chỉ xin đừng ẵm con thơ”. Thơ chị nói được điều lớn lao sâu sắc bằng sự giản dị. Chị lắng nghe vết xước từ ký ức, lắng nghe “Con ốc sên bò qua thế giới ồn ào/ Gìn giữ một hành trình câm lặng/ Gìn giữ niềm khao khát/ Mùa lá xanh non…”. Không dừng lại ở các thể loại quen thuộc, tác giả đã mở rộng đường biên sang tối giản. Không chỉ có tình yêu, thơ Phi Tuyết Ba còn hướng đến đời sống, đến thế sự với ngổn ngang nỗi niềm. Nhưng không phải để kể, những trang đời, những bóng người hiện lên trong cách nhìn thường mang đến cho người đọc nhiều nghĩ ngợi: “Chiếc giày phải/ Đợi chờ chiếc giày trái/ Cùng mòn…”, “Bông hoa giả/ Ngóng chờ con ong thật…”. Mang theo nhiều câu hỏi về thân phận và tình yêu, về bản thể và đời sống, nhưng thơ chị không mang âm điệu của tiếng thở dài. Chị vượt qua nỗi buồn bằng cái đẹp, bằng sự kiêu hãnh và nghị lực của tâm hồn “có một chút Kiều” trong đó: “Lấy nỗi đau nhóm lửa/ Lấy nỗi buồn thêu hoa”.
Trong thơ Phi Tuyết Ba, nhiều khi hiện hữu và giấc mơ như một cặp song hành. Nó cứ chập chờn, khi đồng hiện, khi đổi vai cho nhau trong thực tại và suy tưởng, trong cảm quan giới: “Người đàn bà/ Giấu người đàn ông trong giấc mơ/ Người đàn bà có lý do để lo sợ…”. Ở giữa mặt đất và bầu trời, “Tất cả những gì thuộc về trái đất đều lận đận/ Trừ những bài thơ được sinh ra từ giấc mơ”. Thơ Phi Tuyết Ba đi giữa những đường biên mong manh thực và ảo, hiện thực và lãng mạn, hiện hữu và hư vô…, lúc thì tâm tình, lúc thì như phản tư, tự vấn…, ngôn từ vừa mang vẻ đẹp trí tuệ của trái tim, vừa đằm thắm nữ tính.
“Quà tặng” là thi tập nhà thơ, nhà giáo Phi Tuyết Ba dành cho thiếu nhi. “Đàn mưa con” là bài thơ được lựa chọn đưa vào sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2, trong bộ sách “Tri thức với cuộc sống”. Với tinh thần hướng thượng, với âm hưởng của lối nói đồng dao, “Quà tặng” phù hợp với thế giới trẻ thơ. Nó thực sự là món quà tinh thần của một nhà thơ, một nhà giáo nặng lòng với nghề dạy học và yêu mến tuổi thơ.
Mở lòng trước thiên nhiên, trước đời sống, với giọng nói chân cảm, thơ Phi Tuyết Ba như có cái gì náo níu người đọc. Trước trang giấy trắng, người thơ luôn khao khát: “Trang giấy hóa đại dương/ Con thuyền mai mảnh quá/ Hãy để em tự vượt chính mình/ Bơi qua trang giấy đêm/ Làm mới lại em…/ Rồi anh sẽ thấy/ Em trở về bên anh với gương mặt trăng lên…”.
Đọc thơ, gặp được người. Đó là hạnh ngộ. Trước mênh mông trang gió, đối diện với tha nhân đã khó, nhưng đối diện với chính mình còn khó hơn. Không chỉ là bằng chứng của nỗi – niềm, không chỉ là bức tranh đời sống, thơ Phi Tuyết Ba như vầng trăng cửa bể neo lại nơi bến gió…
(Bài viết đăng trên VNQĐ số 1086, tháng 6/2026)