Trang chủ » Bầu bạn góp cổ phần

Giáng sinh

Lê Hoài Nam
Thứ tư ngày 19 tháng 12 năm 2012 9:22 PM

 

     Truyện ngắn 
    
     I

Phải mất hơn mười năm sống trong ngôi lán dựng bằng cành cây,  mái cỏ hành nghề thợ mộc, Giuse mới có đủ tiền đủ của làm một ngôi nhà gỗ cho  mình. Làm xong ngôi nhà, nhìn lại bản thân, đã gần sang tuổi ba mươi, Giuse nhận thấy đã đến lúc chàng cần phải có một người vợ.
 Rồi cơ hội ấy cũng đã đến.
Giu-se đứng tựa vai vào một thân cây ôliu trước cửa ngôi nhà mới,  dóng mắt về phía con đường chạy dọc làng Nadaret, đến trước cửa nhà chàng thì đổi hướng về phía bờ sông Jorđan. Hai bên đường là những vườn nho, vườn chà là xanh tốt. Những thửa lúa mạch đã gặt, rạ phơi khô phủ kín đất. Phía con đường ấy xuất hiện ba thiếu nữ từ trong làng đi ra, trên đầu mỗi người đội một chiếc vò đất nung. Họ đi ra bờ sông lấy nước. Giuse nhận ra thiếu nữ đi đầu là Maria con ông Gioan Kim và bà Anna, chàng thầm thốt lên: “Chao ôi, Maria trở thành thiếu nữ tự khi nào mà hôm nay trông nàng xinh đẹp nhường kia?”. Giuse không cần phải che giấu sự ngưỡng mộ nàng. Hai thiếu nữ đi sau Maria phát hiện ra tình cảm của Giuse, họ bước nhanh lên ngang Maria, một cô nói:
- Maria trông kìa! Anh Giuse đang nhìn cậu rất lạ!
- Không lạ đâu - Cô thứ hai nói - Anh Giuse bị Maria hút mất hồn đấy mà!
- Thật thế ư? Mình đâu có ra gì mà anh ấy phải nhìn ngắm kia chứ! - Maria nói thế, và nàng không thể không quay lại xem Giuse nhìn mình như thế nào.
Chính giờ khắc ấy đã trở nên hệ trọng với cả Maria và Giuse, bởi hai cặp mắt của họ đã chiếu vào nhau, phát ra những tín hiệu của tình yêu.
Hôm sau Giuse đến nhà Maria. Chàng khoanh tay cúi đầu chào ông Gioan Kim và bà Anna, nói:
- Thưa hai bác. Cháu đến đây xin hai bác cho phép cháu được đính hôn với em Maria!
Ông Gioan Kim cười:
- Giuse, cách đặt vấn đề của cháu khiến bác hơi buồn cười một chút. Nhưng bác hiểu, thẳng thắn, không bóng bảy vòng vo là bản tính của cháu. Bác còn hiểu cháu là một tay thợ mộc giỏi giang, chân chỉ, liêm chính. Cháu không bắt chẹt hay lừa gạt một ai bao giờ. Những đức tính ấy rất đáng quý. Nhưng cháu muốn đính hôn với Maria nhà bác lại là chuyện khác. Bác muốn  Maria tự quyết định cho cuộc hôn nhân của nó. Cháu nghe rõ rồi chứ, Giuse!
- Maria đang lùa đàn cừu vào chuồng, cháu ra mà nói chuyện với nó - bà Anna khích lệ.
Giuse bước ra ngoài. Chàng cầm lấy cành ôliu trên tay Maria giúp nàng lùa những con cừu cuối cùng trong đàn vào chuồng. Thấy Giuse chui cả vào chuồng cừu để đóng then cài cửa thì Maria ngăn lại, nói:
- Chuồng cừu nhà em nhiều bụi lắm. Giuse, anh ra đi kẻo bụi bám đầy
tóc rồi kìa!
- Không sao đâu - Giuse quay lại nhìn soi vào đôi mắt đẹp mê hồn của  Maria - Em nhận lời đính hôn với anh nhé!
Thấy Maria im lặng nhìn đi nơi khác, Giuse hỏi:
- Em không đồng ý ư, Maria?
Không phải thế - Maria nói - Nhưng quả thật, việc này em chưa có sự chuẩn bị gì. Em mới mười tám tuổi thôi mà!
- Còn anh thì đã hai mươi tám. Hơn em tới mười tuổi - Giuse nói -  Anh đã có những điều kiện chuẩn bị cho cuộc hôn nhân. Anh làm được ngôi nhà, vừa là chỗ ở vừa làm xưởng mộc. Xưởng mộc của anh đủ nuôi sống một gia đình nhỏ. Tóm lại, về vật chất, em không phải lo gì cả. Em chuẩn bị về tinh thần thôi. Mà tinh thần, chỉ cần chúng ta yêu nhau sẽ vượt qua hết thảy mọi sự!
Maria nói:
- Giuse, em cũng yêu anh!
Ông Gioan Kim và bà Anna làm thủ tục đính hôn cho Giuse và Maria. Từ đền thánh trở về, bà Anna dặn đôi trẻ:
- Theo phong tục của dân Itxraen chúng ta, sau lễ đính hôn nghĩa là các con đã thành hôn. Nhưng một năm sau các con hãy làm lễ cưới, mới được sống cuộc sống vợ chồng. Maria còn ít tuổi, ta chưa kịp truyền dậy được điều gì về cuộc sống sau khi kết hôn cả!

          II

Nhà ông Gioan Kim có một thửa ruộng trồng lúa mạch, một vườn nho, một vườn chà là. Xung quanh các khu vườn còn có những khoảng đất trống dành cho những rặng cây vả và cây ôliu.
Một buổi chiều trước dịp lễ Vượt Qua, Maria ra vườn tưới cây. Nàng phải đội nước từ sông Jorđan lên rồi dùng chiếc gáo bằng vỏ quả bầu để tưới. Maria tưới xong hai khu vườn thì trời ngả hoàng hôn. Nàng đang chuẩn bị về nhà, bất chợt từ chân trời phía bờ sông xuất hiện một áng mây đen lừ lừ tiến về phía nàng. Vòm trời bên trên làng Nadaret xập tối. Từ trong áng mây dị thường ấy lộ ra một ngôi sao rất to. Khi ngôi sao tiến đến gần tầm mắt Maria thì từ trong quầng sáng của nó hiện ra một Sứ thần có đôi cánh trắng. Thoáng chút sợ hãi, Maria nép vào một gốc cây, quỳ xuống chắp hai tay bái lạy. Sứ thần nói:
- Chào Maria. Ta là đấng truyền tin của Thiên Chúa Thánh Thần. Xin cô đừng sợ. Thiên Chúa đã nhìn thấy cô và ngài đã chọn cô. Kể từ nay cô sẽ mang thai để rồi chín tháng mười ngày sau sẽ sinh ra hài nhi! Hài nhi lớn lên sẽ trở thành Đấng Cứu Độ.
- Việc ấy xẩy ra như thế nào? Vì tôi chưa biết tới chuyện vợ chồng? - Maria hỏi.
- Thiên Chúa Thánh Thần sẽ ngự xuống nơi cô bằng quyền năng tối cao và phép màu nhiệm của ngài - Sứ thần nói - Cô mang thai ngay khi cô vẫn còn là trinh nữ. Con trai cô đặt tên là Giêsu. Giêsu sẽ cứu dân Itxraen của ngài lấy lại được nước, lấy lại được ngai vàng xưa của vua Đavít, tổ phụ của ngài. Ngài sẽ là Đức Ki-tô cứu chuộc nhân loại đang lầm lạc, khổ đau!
- Tôi sinh ra trong một gia đình làm ruộng làm vườn khốn khó và một ngôi làng vô danh tầm thường - Maria nói - cớ sao Thiên Chúa Thánh Thần lại chọn tôi?
- Kìa Maria, cô hãy tự nhìn lại mình đi - Sứ thần nói - Bên trong cái dáng vẻ bình dân giản dị của cô ẩn tàng một tâm hồn thanh cao huyền nhiệm mà Thiên Chúa Thánh Thần đã nhận ra. Ngài đã chọn cô làm người lãnh nhiệm hoài thai ra Đấng Cứu Độ. Nếu cô còn hoài nghi gì, ngày mai hãy đến vùng đồi núi Giudea thăm người chị họ tên là Elisabet của cô. Elisabet đã quá tuổi sinh con, lại có cái vẻ bề ngoài khắc khổ, nhưng Thiên Chúa Thánh Thần lại nhận ra cô ấy có một tâm hồn khả ái vị tha, nên ngài cũng đã dùng phép huyền nhiệm của đấng tối cao ban cho Elisabet mang thai.
- Nếu vậy thì kẻ hèn này cầu xin Thiên Chúa Thánh Thần hãy thực hiện điều người đã định - Maria nói.
- Hãy can đảm nhé, Maria! Thiên Chúa luôn ở bên cô! -Sứ thần nói thế rồi ẩn vào ngôi sao. Ngôi sao bay lùi về phía bờ sông. Vòm trời bên trên làng Nadaret lại trở về với màu đỏ thẫm của sắc hoàng hôn.
“Có nên nói ra điều thiêng liêng này với bố mẹ và anh Giuse không? Khi cái thai trong bụng mình lớn lên, bố mẹ và anh Giuse có tin như lời phán truyền của Sứ thần?” - Suốt đêm ấy Maria cứ trằn trọc, day trở với những câu hỏi mà nàng chưa tìm ra lời đáp.
- Con xin phép bố mẹ cho con đi thăm chị Elisabet - Maria nói với Gioan Kim và Anna khi nàng vừa thức dậy.
- Sao hôm nay bỗng dưng con lại nảy ra ý định lạ lùng vậy? - ông Gioan Kim nói - Elisabet ở tận miền núi. Đã lâu nó không liên hệ với gia đình ta!
- Elisabet sắp sinh con - Maria thông báo.
- Con nói sao? Sắp sinh con? - cả Gioan Kim và Anna hầu như như cùng thốt lên - Từ khi còn trẻ, Elisabet đã mắc bệnh vô sinh, không phương cứu chữa. Ai báo cho con cái tin quái gở này?
- Thiên Chúa Thánh Thần sai Sứ thần hiện xuống truyền tin cho con. Xin bố mẹ cho phép con đi và nói với anh Giuse giúp con. Chị Elisabet sinh xong, con sẽ về.
Cả Gioan Kim và Anna đều còn tỏ ra khó hiểu, nhưng vì sự kiện bí ẩn lạ lùng ấy họ lại không muốn cản trở Maria nữa.
Maria cưỡi trên lưng một con lừa, ra đi từ sáng sớm. Vượt qua bao nhiêu đồi cát sa mạc, rừng chà là, rừng vả, rừng xương rồng gai, xẩm tối thì đến được ngôi làng miền núi, nơi Elisabet lấy chồng.
Vật ấn tượng đầu tiên Maria nhìn thấy ở đây là cái bụng mang thai đã cao “vượt mặt” của Elisabet. Có gì đó ngồ ngộ khi một người đàn bà nông dân đã mang gương mặt nhầu nhĩ, khắc khổ của tuổi lục tuần lại còn mang thai. Nhưng nhìn kĩ gương mặt, Maria lại thấy Elisabet có một vẻ tao nhã thánh thiện ẩn chìm bên trong cái vỏ bề ngoài thô nhám đó. Giọng nói của Elisabet rất diễm lệ chứ không cục cằn thường thấy ở những người nông dân miền núi.
- Ôi Maria yêu quý của chị! Cuộc sống tao loạn và nghèo khó, đường xá lại xa xôi làm cho chị em mình tưởng đã không bao giờ còn gặp nhau nữa - Elisabet vừa nói vừa ôm lấy Maria - Ơn Thiên Chúa Thánh Thần đã đưa em đến với chị. Em sắp là mẹ của Đấng Cứu Độ rồi đó!
- Chị tin như vậy chứ? - Maria hỏi và ôm chặt Elisabet hơn.
- Maria, em đừng để cho lòng mình nảy sinh một chút hoài nghi kẻo bề trên sẽ phạt em bị câm như anh rể em kia kìa - Elisabet chỉ tay về phía Dacaaria đang đứng gần đó. Dacaria chỉ gật đầu đáp lễ Maria mà không nói được.
- Hôm ấy đến lượt ông Dacaria chồng chị cùng với nhóm của ông ấy lo việc tế tự Đền Thánh - Elisabet buông Maria, rồi kể - Trong cuộc bắt thăm thường lệ của hàng tư tế, Dacaria đã trúng thăm, được vào dâng hương trong Đền Thánh. Dân chúng thì chỉ được đứng cầu nguyện ở bên ngoài. Bỗng một Sứ thần hiện ra đứng bên phải hương án nói: “Này ông Dacaria. Cả hai ông bà đều là nông dân nghèo nhưng có tấm lòng lành, công chính, sống đúng theo các điều răn và mệnh lệnh Thiên Chúa, không ai chê trách ông bà điều gì. Chỉ tiếc ông bà không có con! Hôm nay, ông bà đến Đền Thánh dâng hương, Thiên Chúa đã thấu tỏ lòng ông bà. Ngài sẽ ban phước cho vợ chồng ông. Ngay hôm nay, bà Elisabet sẽ mang thai. Chín tháng mười ngày sau sẽ sinh một con trai. Ông phải đặt tên cho con là Gioan. Gioan sẽ là một vị thánh. Khi trở thành thánh, ngài sẽ được gọi là Gioan Tẩy Giả. Sắp tới, Maria, em họ vợ ông sẽ sinh Giêsu, đấng Cứu Độ Toàn Năng. Goan Tẩy Giả sẽ là người đưa những con dân Itxraen về với Thiên Chúa, làm cho lòng cha ông quay về với con cháu, tâm tư kẻ ngỗ nghịch quay về với nẻo chính đường ngay và chuẩn bị cho mọi người sẵn sàng đón Đức Giesu Ki-tô. Goan Tẩy Giả luôn đi trước xua đuổi những vật cản, những quân phản đạo và tà đạo, dọn đường cho Giêsu và các môn đệ của ngài đi sau truyền bá phúc âm và đức tin Thiên Chúa.
Tỏ ra một thoáng hoài nghi, ông Dacaria nói bằng cái giọng hơi sẵng với Sứ thần: “Dựa vào đâu mà tôi biết được điều ấy? Vì tôi đã già và vợ tôi thì cũng đã lớn tuổi?”. Sứ thần nói: “Tôi là Giaaprien, hằng đứng chầu bên Thiên Chúa, được Thiên Chúa sai xuống báo tin mừng cho ông nhưng ông lại không tin lời tôi. Và này đây, ông sẽ bị câm, không nói được cho đến ngày các điều ấy xẩy ra!”. Kể từ giờ khắc ấy chồng chị không nói được nữa!
- Ôi, chị Elisabet, giờ thì em tin chị, rất tin chị - Maria nói.
- Em hãy ở lại đây với chị - Elisabet nói - Chị muốn em có mặt vào cái lúc chị sinh Gioan Tẩy Giả!
Maria ở lại làm giúp các việc nội trợ trong gia đình Elisabet. Ba tháng trôi qua, cái giờ khắc thiêng liêng ấy đã đến. Cuộc chào đời của Gioan Tẩy Giả cũng giống như tất cả các cuộc nhân sinh của đồng loại. Chỉ khác một điều: khi hài nhi ra khỏi lòng mẹ, Maria và những người đàn bà hàng xóm nâng nó lên cho ông Dacaria xem thì tự dưng ông hết câm, mở miệng nói: “Hãy đặt tên cho hài nhi là Gioan Tẩy Giả như ý Thiên Chúa Thánh Thần!”.
Dacaria đã có đức tin vào lời Thiên Chúa. Thiên Chúa chỉ phạt ông để ông có đức tin. Thiên Chúa phạt người chỉ mang tính nhất thời, cứu người mới là việc muôn thủa.
Đã đến lúc Maria thấy cần phải trở về Nadaret. Nàng nói với người chị họ:
- Chị Elisabet ơi, cho dù em đã sẵn sàng, nhưng phải tới khi đến thăm và chứng kiến chị sinh Gioan Tẩy Giả, em mới thật sự tự tin đón nhận mọi điều ủy thác từ Thiên Chúa..
 - Chị cũng rất vui và lấy làm hân hạnh - Elisabet nói - Em sắp là mẹ của Đấng Cứu Độ, một người mẹ vĩ đại nhất nơi trần gian, vậy mà em vẫn cất công đến cái xóm nghèo, nơi miền núi hẻo lánh này thăm và giúp đỡ chị. Chị cầu chúc cho cuộc vượt cạn của em an lành, hanh thông như ý Thiên Chúa Thánh Thần.

          III

- Con phải nói thật đi, cái thai con đang mang trong mình là của ai? - Ông Gioan Kim sừng sộ khi ông và bà Anna vừa từ ngoài đường bước vào nhà - Không phải của Giuse phải không?
- Bố mẹ hãy cứ bình tâm, rồi đến lúc bố mẹ sẽ biết thôi mà - Maria nói.
- Chúng ta không thể bình tĩnh được nữa - bà Anna nói - Con biết không, từ lúc con trở về Nadaret, mặc dù con ngồi trên lưng lừa, người làng vẫn nhận ra con đã mang thai, rồi bình phẩm đủ điều tệ hại khiến bố mẹ rát cả mặt!
- Rồi còn Giuse nữa chứ! Nó là một chàng trai tử tế. Nó sẽ xử sự thế nào trước việc này? Ta cho phép con ở nhà một mình ngẫm ngợi rồi trả lời chúng ta! - Ông Gioan Kim nói, rồi kéo bà Anna đi ra khỏi nhà.
Được người làng báo tin Maria đã trở về Nadaret, Giuse rời xưởng mộc đến gặp nàng. Vừa bước vào nhà và nhìn thấy Maria, Giuse đã đứng như chết lặng. Cái bụng lùm lùm của Maria như cái gai đâm vào mắt chàng.
- Em có biết rằng - Giuse nói - để xẩy ra chuyện này là em đã phạm tội gì không? Theo luật Mose, em sẽ bị điệu đến cửa Đền Thánh rồi bị ném đá cho đến chết. Nếu anh nhận cái thai đó là của anh thì anh đã phạm tội nói dối. Nếu anh không nhận thì nghĩa là em phải chết, Maria ạ.
- Em biết, anh Giuse! - Maria bình thản nói.
- Nhưng ít nhất thì em cũng phải cho anh biết rằng tác giả của cái thai là ai chứ?
- Rồi anh sẽ biết! Chuyện này không có gì xấu xa đâu, anh Giuse!
- Thôi đành vậy - Giuse nói - Anh sẽ không nói gì về chuyện này nữa. Tốt nhất là em hãy đi đến một nơi thật xa, thật xa, may ra sẽ giữ được mạng sống!
- Cám ơn anh Giuse - Maria nói - Vì Thiên Chúa, em đã sẵn sàng đón nhận mọi giông bão rồi mà!
Giuse lặng lẽ rời khỏi nhà ông bà Gioan Kim. Khi ấy Gioan Kim và Anna đã đi về phía vườn nho. Họ vừa bước bên nhau vừa bàn soạn, ngõ hầu tìm ra một giải pháp tốt nhất cho Maria. Họ đã từng chứng kiến những cô gái làng hoang thai rồi bị người ta ném đá chết tức tưởi như thế nào. Nhưng họ toan tính mãi mà vẫn chưa tìm ra một giải pháp ổn thỏa.
Cho dù vẫn còn rất yêu Maria, nhưng Giuse đã nghĩ không thể trở lại với nàng, bởi nàng đã phạm điều răn “tham muốn vợ, chồng người”. Tội này lại rất khó tẩy sạch nơi trần thế. Giuse sẽ chôn chặt mối tình trong đáy sâu tâm hồn, coi như một kỷ niệm buồn nhất đời chàng.
Đêm hôm ấy, trong giấc ngủ, Giuse nhìn thấy một ngôi sao lớn bay vào nhà. Từ quầng ánh sáng của ngôi sao, Sứ thần mang đôi cánh trắng hiện ra nói với chàng:
- Này Giuse! Ông là hậu duệ của vua Đavit từng làm sáng danh miền Giudea và thành Gierusalem! Ông chớ ngại khi Maria mang thai, vì con người bà ấy đang mang trong mình là do quyền năng mầu nhiệm của Thiên Chúa Thánh Thần. Sự việc này xẩy ra là ứng nghiệm với lời Chúa phán từ xưa qua lời ngôn sứ: “Này đây trinh nữ sẽ thụ thai và sinh ra một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuen, nghĩa là Thiên-Chúa-Ở-Cùng-Chúng-ta. Ông có nhớ không?
Giuse ngồi bật dậy cho tỉnh hẳn, rồi làm dấu thánh:
- Thưa Sứ thần, con nhớ, con xin nhớ! - chàng nói.
Giuse tìm thấy Maria khi nàng đang một mình đội những vò nước từ dưới bờ sông Jordan lên tưới cho vườn cây. Giuse bước đến đón cái gáo từ tay nàng.
- Maria, để anh tưới giúp!
Maria quan sát xem gương mặt Giuse biểu lộ sắc độ tình cảm nào, rồi hỏi:
- Giuse, anh không giận em nữa sao?
- Không đâu, Maria! Anh sẽ nhận đứa con em đang mang trong mình là con anh. Sẽ không ai có quyền kết tội em nữa!
- Cám ơn anh, Giuse! - Maria nói rồi tiếp tục cùng Giuse tưới nốt vườn cây.

    IV


Chuyện cặp vợ chồng Dacaria và Elisabet dâng lễ ở Đền Thánh, nghe Sứ thần truyền tin rồi có con; chuyện Maria được Thiên Chúa Thánh Thần chọn làm người mang thai Chúa Cứu Độ, dù các thành viên trong hai gia đình đều giữ kín, nhưng rồi do bản tính tò mò, mách lẻo của người đời mà hai tin mừng ấy từ những làng quê của dân Itxraen đã không cánh mà bay tới tận thành Gierusalem.
Vua Hê-rô-đê là một kẻ độc tài, có thói đa nghi và tàn độc khét tiếng. Khi lấy được thành Gierusalem, ngồi vào ngai vàng rồi, Hê-rô-đê còn giết tất cả những người thân thuộc của chế độ tiền nhiệm Átmone, giết cả Mariamme, người vợ mang dòng máu Itxraen cùng ba đứa con trai do bà sinh ra. Cái tin “Dân Do Thái sắp có vua mới” đến tai, Hê-rô-đê đã ban một sắc lệnh: Kiểm tra dân số toàn bộ vùng Giudea và thành Gierusalem! Mọi người đều phải trở về nơi sinh quán cho dễ bề kiểm soát. Ai chống lệnh đều phải chịu những hình phạt rất nặng nề.
Ông Goian Kim và bà Anna vô cùng lo lắng trước cái sắc lệnh này. Gioan Kim nói với Giuse:
- Bây giờ con dự tính thế nào, Giuse?
- Con sẽ phải trở về thị trần Belem, ngoại thành Gierusalem, nơi con sinh ra!
- Thế còn Maria? - bà Anna hỏi, không giấu nổi nỗi buồn lo sầu sứ.
- Maria sẽ đi cùng con! - Giuse khẳng khái đáp.
- Nhưng Maria đã mang thai đến thánh thứ chín rồi - bà Anna nói - Từ đây đến Belem rất xa, mà đường đi thì gập ghềnh, trắc trở. Mẹ rất lo.
- Con đi cùng anh Giuse được mà - Maria nói với cả Gioan Kim và Anna - Thiên Chúa Thánh Thần sẽ ban cho con sức khỏe!
Không còn sự lựa chọn nào khác, ông bà Goian Kim buộc phải bấm bụng nuốt nỗi buồn chia ly và chuẩn bị hành trang cho Giuse và Maria lên đường.
Họ ra đi từ sáng tinh sương. Trên vai Giuse khoác cái túi đựng tư trang, tay cầm thừng dắt con lừa. Trên lưng lừa là Maria ngồi nghiêng, bụng mang thai lặc lè. Họ cứ theo những triền đất ven sông Jordan mà đi, khi sa mạc, khi đồi gò, khi rừng rậm. Lúc nào thấm mệt họ dừng lại nghỉ lấy sức rồi lại đi tiếp. Thỉnh thoảng họ bắt gặp những cây thập giá bằng gỗ dựng ven bờ sông. Trên những cây thập giá ấy là những mạng người bị quân Hê-rô-đê đóng đinh câu rút. Có người mới bị hành xác, những vết đinh trên trán, trên đôi bàn tay, đôi bàn chân máu hãy còn rỉ ra đỏ thẫm. Có người xác đã bắt đầu bốc mùi rất nặng. Đàn diều hâu chao liệng bên trên, chốc chốc chúng lại sà xuống xé một miếng thịt từ những cái xác người rồi khi bay lên chúng ném xuống mặt đất những tiếng kêu hoang vắng, thống thiết. Đàn kền kền thì bu lại tranh nhau nhặt những mẩu thịt người mà lũ diều hâu đánh rơi. Cả Giuse và Maria đều hiểu rằng những người này đã bị quân Hê-rô-đê kết tội chết trong đợt thu thuế mới đây. Làng Nadaret cũng có nhiều người không đủ tiền và lúa mạch nộp thuế. Quân Hê-rô-đê mượn cớ đó chiếm luôn ruộng vườn của họ. Những người ngoan cường chống lại đều bị bắt đánh chết. Kẻ được coi là cầm đầu thì bị đóng đinh lên thập giá nhằm răn đe những người khác. Rất nhiều người còn bị bắt đưa đi làm nô lệ cho các quan triều đình và các bậc thượng tế trên thành Gierusalem.
Chợt Maria và Giuse nhìn thấy một xác phụ nữ nằm ngửa dưới chân cây thập giá, trên thân xác không còn một miếng vải che. Máu từ vùng kín của chị chảy tràn trên cát sa mạc đã đen lại. Giuse và Maria đều nhận ra người phụ nữ này tên là Helen, người làng Nadaret. Hôm quân Hê-rô-đê đến thu thuế, nhìn chồng bị đánh đập, Helen đã lăn xả vào toan cứu chồng, liền bị bọn lính bắt trói đưa vào vườn nho thay nhau làm nhục. Khi Helen tắt thở, chúng dùng dây trói hai chân nàng kéo đến vất dưới chân cây thập giá. Rồi chúng đóng đinh chồng Helen lên cây thập giá ấy.
Maria bảo Giuse đỡ nàng xuống khỏi lưng lừa. Nàng cởi tấm áo choàng phủ lên xác Helen, quỳ xuống nguyện cầu cho vong hồn vợ chồng Hêlen bình an về nơi thiên đàng. Từ lúc ấy, Maria cứ bị cái mùi tử khí ám ảnh. Có lúc Maria lả người đi. Giuse phải một tay cầm thừng dong con lừa, một tay vòng qua lưng Maria giữ cho nàng khỏi ngã. Họ cứ đi. Cho đến lúc gặp một thảm cỏ, không khí trong lành, Giuse đỡ Maria xuống khỏi lưng lừa. Giuse thấy cần phải để Maria nghỉ tạm cho tỉnh lại. Giuse trải tấm chăn chiên xuống thềm cỏ, rồi đỡ Maria nằm xuống. Một lát sau, gió mang hơi nước từ mặt sông phả lên đã làm Maria tỉnh táo hẳn.
- Maria, em hãy còn sợ phải không? - Giuse hỏi.
- Đúng thế đấy, anh Giuse - Maria nói - Quân Hê-rô-đê coi dân Itxraen chúng ta như thân phận con bò, con lừa vậy!
- Em hãy tạm gác những sầu muộn sang một bên, giữ cho thai nhi  bình an - Giuse đặt một bàn tay lên vừng trán Maria - Chúng mình cố gắng đến Belem trước khi màn đêm buông xuống!
- Vâng, em sẽ cố gắng - Maria nói - Từ lúc tỉnh lại đến giờ trong em cứ day trở một câu hỏi: Bao giờ người dân Itxraen và xứ xở Giudea của chúng ta mới thoát khỏi cảnh đàn áp bất công của quân Hê-rô-đê?
- Đấy, em lại lo âu, sầu muộn rồi! Điều ấy phụ thuộc vào cái thai mà em đang mang trong mình đấy, Maria! - Giuse nói - Đức Giesu, con chúng ta ra đời, sẽ cứu chuộc và thức tỉnh loài người nhận biết tội lỗi của mình mà ăn năn xám hối!
Im lặng một lát, Maria nắm lấy bàn tay Giuse, hỏi:
- Anh Giuse, anh yêu em lắm, đúng không?
- Điều ấy thì không còn nghi ngờ gì nữa, Maria! - Giuse đáp.
- Vậy mà từ ngày anh đứng ra bảo lãnh cứu em thoát khỏi tội chết, được làm vợ anh, nhưng chưa bao giờ anh đòi hỏi làm chuyện âu yếm vợ chồng với em!
- Anh coi việc làm chuyện ấy là xúc phạm tới Đức Chúa Giesu - Giuse nói - So với sự hoài thai ra Đức Giesu Ki-tô thì sự hy sinh của anh chẳng đáng kể gì!
“Anh ấy có tất cả những phẩm chất của một vị thánh!” - Maria xúc động nghĩ thế, nhưng nàng thấy không cần thiết phải nói ra. Nàng chỉ giục: “Ta đi tiếp được rồi đấy, anh Giuse!”.
Giuse đỡ Maria lên lưng lừa. Họ lại tiếp tục đi. Gặp dòng sông nhánh, mặt nước có váng đen như rắc bồ hóng, đó là dấu hiệu chuẩn bị đóng băng, Giuse bế Maria lội qua. Nước lạnh làm cứng chân Giuse, nhưng chàng quyết không dừng lại nghỉ. Chàng dậm dậm chân một lát cho nóng lên rồi bước tiếp.
Nhá nhem tối, họ nhìn thấy thành Gierusalem hiện lên ở phía trái với những lâu đài thành quách lấp lánh ánh đèn. Đúng lúc ấy Maria kêu đau bụng. Nàng đã trở dạ.
- Em đau lắm, anh Giuse ơi! Phải làm sao bây giờ?
- Gắng chịu đựng thêm chút nữa, em yêu! Sắp tới thị trấn Belem, quê hương anh rồi!
Thai nhi cựa quậy rất mạnh. Dù đau đớn quằn quại, nghe lời Giuse,  Maria vẫn cố nén chịu. Cuối cùng họ cũng đi đến đầu thị trấn Belem. Lúc này, Maria cảm nhận những cơn đau như xé xác, nàng đưa tay chới với như muốn tìm một vật gì đó mà bấu víu. “Em không chịu nổi nữa, anh Giuse!”, nàng thì thào. Giuse liền khoác thừng lừa vào vai, đưa tay đỡ Maria xuống, rồi bế ngửa nàng trên hai tay đi tìm quán trọ. Giuse hỏi mấy quán trọ đầu thị trấn, nơi nào cũng trả lời đã chật người thuê. Hôm nay, những người quê gốc Belem, dù đang làm ăn sinh sống nơi đâu, cũng phải tìm về chốn cũ thi hành việc kiểm tra dân số. Những ai không còn  nhà cửa ở thị trấn, đều phải tìm đến quán trọ. Giuse tìm đến cái nhà trọ thứ năm, người chủ quán nhìn Maria đau đớn trên tay Giuse, ông ta trạnh lòng bảo:
- Nhà tôi cũng đã chật, mọi người đều phải trải thảm cỏ dưới đất nằm chen với nhau. Chỉ còn cái hang lừa, nếu anh chị không chê thì có thể ở tạm!
Không còn cách nào khác, Giuse đành phải bế Maria bước về phía cái hang đá tối om. Nhưng thật kì diệu, Giuse vừa bước tới cửa hang, từ vòm trời phía sau lưng họ có một ngôi sao lớn xuất hiện, dọi những tia sáng về phía họ, làm cái hang bừng lên một thứ ánh sáng ảo huyền. Cả Maria và Giuise đều cảm nhận rằng Thiên Chúa Thánh Thần đang dùng quyền năng mầu nhiệm giúp đỡ họ. Những con lừa trong hang giờ đây cũng nhìn Maria và Giuse một cách thân thiện, trìu mến. Chúng tự giác đứng dạt về hai bên, nhường khoảng giữa hang cho cặp vợ chồng trẻ.
- Em không lấy làm phiền lòng khi phải sinh nở trong cái hang này chứ, Maria? - Giuse hỏi.
- Hẳn rằng Thiên Chúa đã chỉ định Giesu phải được sinh ra ở nơi tăm tối, thấp hèn này! Giêsu cần phải thấm cảnh khốn khó trước khi trở thành Đức Ki-tô! Em nghĩ thế đấy, anh Giuse!
- Thế thì lúc này em hãy giữ lòng mình thật thanh thản để chuẩn bị cho Giêsu chào đời, Maria nhé!
Giuse rút mớ cỏ khô lót thành thảm xuống nền hang, lót cả sang cái máng gỗ bên cạnh. Chàng trải tấm chăn lên trên rồi đỡ Maria nằm xuống. Vừa ngả lưng, Maria đã co rút người lại chịu một cơn đau. Khoảng ba bốn lần như thế, hài nhi đã chuồi ra khỏi thân xác nàng, nằm gọn trên đôi tay Giuse.
Giuse cầm chiếc khăn vải bông lau khắp mình cho Chúa, lấy tã cuốn cẩn thận rồi đặt Chúa xuống máng cỏ. Sau tiếng khóc đầu đời, Chúa hướng cái nhìn ấm áp về phía cha mẹ như một biểu hiện của lòng biết ơn. Trên đầu Chúa tỏa ra những ánh hào quang.

     V

Cùng lúc ấy, ngoài cánh đồng ven thị trấn Belem có ba kẻ mục đồng đang ngồi dưới một gốc cây vả cổ thụ, đàn cừu của họ nằm ngủ xung quanh. Chợt họ nhìn thấy một ngôi sao lớn từ trên trời rơi xuống, bay là là về phía họ. Khi ngôi sao bay tới gần ba người, từ trong quầng sáng của nó, Sứ thần   có đôi cánh trắng hiện ra. Sứ thần phán:
- Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân. Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em. Người là đấng Ki-tô Đức Chúa. Cha nuôi của ngài thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Anh em cứ dấu này mà nhận ra người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh nằm trong máng cỏ…
Khi ngôi sao vừa mang Sứ thần bay về trời, ba người chăn cừu rủ nhau đi vào thị trấn theo dấu chỉ. Họ vừa tới cửa hang đá của một quán trọ  thì ba nhà chiêm tinh cũng vừa từ miền Viễn đông tới. Ba nhà chiêm tinh này chuyên nghiên cứu về mọi hiện tượng diễn ra trong vũ trụ. Họ cũng được một ngôi sao lớn báo hiệu: xứ xở Itxren sắp sinh Ki-tô Đức Chúa. Ba nhà chiêm tinh liền cưỡi lạc đà vượt sa mạc suốt năm ngày năm đêm tới đây chiêm bái Chúa.
Họ cùng ba người chăn cừu bước vào hang.
Ba người chăn cừu quỳ xuống, chắp tay vái, nói với Chúa:
- Hỡi Đức Vua bé bỏng nhưng vô cùng đáng kính! Chúng con xin vui mừng đón chào ngài!
Ba nhà chiêm tinh cũng quỳ xuống vái và nói:
- Chúng tôi từ phương đông đến chào mừng và xin dâng ngài những tặng vật.
Nhà chiêm tinh thứ nhất dâng một cái hộp màu vàng, nói:
- Đây là Vàng, biểu trưng cho Vương Quyền của ngài!
Nhà chiêm tinh thứ hai dâng cái hộp màu đỏ:
- Đây là Nhũ hương, biểu trưng cho Thánh Thần của ngài!
Nhà chiêm tinh thứ ba dâng cái hộp màu trắng:
- Còn đây là Mộc dược, biểu trưng cho Sự Bất Tử của ngài!
Họ vừa dâng lễ vật xong, đột nhiên khắp mọi nơi trong hang đá cất lên tiếng hát mừng của các thiên binh:
Vinh danh Thiên Chúa trên trời
bình an dưới thế cho loài người Chúa thương…

         VI

Chuyện Đức Chúa Ki-tô sinh ra trong hang lừa ở thị trấn Belem  được loan tin rất nhanh đến thành Gierusalem, lọt vào tai tai vua Hê-rô-đê. Ngay lập tức, ông ta triệu tất cả các quần thần trong triều, ban một sắc lệnh:
- Hãy lùng bắt và giết tất cả mọi trẻ em từ hai tuổi trở xuống trên toàn miền Giudea! Nếu kẻ nào để xót một đứa sẽ bị nộp mạng thay thế!
Nhưng vào cái đêm trước ngày Hê-rô-đê ra cái lệnh khủng khiếp ấy, Sứ thần đã hạ cánh xuống hang Belem báo cho Giuse:
- Này Giuse, ông và Maria hãy mang Giesu lánh sang Ai-Cập, và cứ ở đấy cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hê-rô-đê sắp tìm giết Hài Nhi!
Giuse đỡ Maria và Chúa Hài Đồng lên lưng lừa, tạ từ hang Belem. Họ đến Đền Thánh làm lễ cắt bì và dâng Giesu cho Thiên Chúa. Maria lại bế chúa Hài Đồng ngồi trên lưng lừa, Giuse vai đeo túi tư trang, tay cầm thừng dắt lừa, tiếp tục cuộc tha hương. Họ vừa đi khỏi thì xứ Giudea, trong đó có làng Nadaret, bị quân Hê-rô-đê khủng bố. Có hàng ngàn đứa trẻ bị giằng ra khỏi tay mẹ, động tác tiếp theo là chặt đầu, xác vứt ngổn ngang trên những lối đi và những khu vườn.
 Phải vượt sa mạc nhiều ngày đường Giuse và Maria mới tới được Ai-Cập. Gia đình họ ở đó cho đến lúc Hê-rô-đê băng hà, được Sứ thần báo, họ mới trở lại Giudea. Trở về ngôi nhà xưa tại làng Na-da-rét, Giuse dậy Giêsu làm thợ mộc. Giêsu lớn lên  nhờ vào cái xưởng mộc, thửa ruộng lúa mạch, vườn nho, rặng ôliu và tình yêu bao la của Giuse và Maria. Đó là những năm tháng Giêsu được thử thách, đào luyện, cho đến khi có một tầm vóc đủ lớn, một bản lĩnh mẫn tiệp của người đàn ông tuổi ngoài ba mươi ngài mới lãnh trọng nhiệm: truyền giảng đức tin đến muôn dân, trong vai trò một vị thánh lớn: Chúa Cứu Thế.

     Mùa Giáng sinh 2011.