Trang chủ » Bầu bạn góp cổ phần

HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM, NHÌN LẠI VÀ HƯỚNG TỚI KỶ NGUYÊN MỚI

Đỗ Trọng Khơi
Thứ sáu ngày 4 tháng 9 năm 2026 2:03 PM




1. Văn học nghệ thuật Việt Nam cách tân và chuyển đổi

Lấy mốc khởi từ trào lưu văn học lãng mạn với Tự lực văn đoàn và Thơ mới 1930-1945, sang thời kỳ văn nghệ kháng chiến 9 năm 1946-1954, rồi 20 năm chiến tranh Thống nhất đất nước 1955-1975, Đổi mới 1975-1986, cho thấy nền văn học nghệ thuật Việt Nam đã trải qua các thời kỳ tiền chiến, kháng chiến, hậu chiến, trong đó hai thời kỳ kháng chiến và hậu chiến – tái thiết đất nước, văn học nghệ thuật sáng tác theo trào lưu hiện thực xã hội chủ nghĩa. Từ 1990 trở lại đây, thêm một lần văn học nghệ thuật tiệm cận tới một trào lưu sáng tác mới, nghệ thuật hiện đại - hậu hiện đại. Vậy là trải 4 giai đoạn cách tân và chuyển đổi nghệ thuật, có thể tạm định danh: Khởi từ lãng mạn, đề cao tính tự tôn, biệt lập “Ta là Một, là Riêng, là Thứ nhất” (Xuân Diệu); “Con nai vàng ngơ ngác / Đạp lên lá vàng khô” (Lưu Trọng Lư), đến thiêng hóa - tôn vinh cái Một lớn lao Dân tộc tính “Gương mặt người ai cũng sáng long lanh” (Tố Hữu); “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (Nguyễn Đình Thi); “Đường ra trận mùa này đẹp lắm” (Phạm Tiến Duật). Và tới giai đoạn giải thiêng: “Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng” (Hoàng Cầm), “Sức ì luôn trói buộc / Cái cũ đã thành thần” (Chế Lan Viên)… Những năm đầu thế kỷ 21, nghệ thuật hiện đại dường đang đưa người nghệ sỹ tìm đường trở lại nhằm tái khẳng định cái Tôi nghệ thuật, dù vẫn là cái Tôi - cá nhân, song nó đã vượt qua đường biên hẹp dân tộc, để đạt tới tính nhân loại: “Ta về cúi mái đầu sương điểm / Nghe nặng từ tâm lượng đất trời / Cảm ơn hoa đã vì ta nở / Thế giới vui từ mỗi lẻ loi” (Tô Thùy Yên); hay “Mặt tươi cười, ôm lấy vai nhau / Ta cố gắng kiếm tìm thỏa hiệp / Dù chúng ta thật là khác biệt / Tựa như hai giọt nước trong veo…” (Wisława Szymborska – Ba Lan). Gần tròn một thế kỷ qua 1930-2026, xã hội - con người cùng văn học nghệ thuật Việt Nam trải bốn thời kỳ, mỗi giai đoạn đều đạt được thành công vang dội. Về chính trị, quân sự có chiến thắng lừng lẫy năm châu: Giải phóng thủ đô 1945; Chiến thắng Điện Biên phủ 1954; Thống nhất đất nước 1975... Văn hóa nghệ thuật (kể cả các ngành nghệ thuật tân nhạc, hội họa, kiến trúc, sân khấu điện ảnh…) đồng hành cùng đất nước cũng gặt hái được những thành tựu đáng trân quý, có những tác phẩm xuất sắc được thế giới biết đến.

Thời hậu chiến, đất nước lâm cảnh suy thoát kinh tế, thoái trào ý thức hệ chính trị trong/ngoài nước và sự suy đồi lối sống đạo đức, chính là lúc bắt đầu cuộc giải thiêng cho nhu cầu tồn sinh và tiếp hiện chu kỳ văn hóa – xã hội mới. Điều cần ghi nhớ, giải thiêng một mô hình xã hội, một biểu tượng tinh thần và nghệ thuật bao giờ cũng là một quá trình lựa chọn khó khăn, được xác định bởi một tiêu chí thẩm mỹ khác.

Tới nay, những năm đầu thế kỷ 21, xã hội Việt Nam đã đến giai đoạn cuối cuộc giải thiêng lịch sử bằng việc làm nhòe mờ và định lượng lại giá trị đã trải, trong đó có cả chiến tích các cuộc chiến, dẫn đến không ít người trẻ tuổi lâm vào tình trạng sống thiếu lý tưởng, mất phương hướng, quan niệm và tiêu chí về giá trị mới từ đấy cũng đổi thay. Tình cảm cộng đồng nhạt dấu, cái tôi cá nhân lên ngôi! Riêng về văn chương nghệ thuật, có thể hình dung thời vàng son với sự góp mặt của các tác gia lớn, tác phẩm xuất sắc thưa dần, nhân dân vốn nhìn nhận văn nghệ sỹ như những mẫu hình thần tượng hòa trong vầng hào quang dân tộc, cũng chịu nhiều phai nhạt. Ví công cuộc vận động xã hội Việt Nam thời kỳ tiền khởi nghĩa và tiền chiến thắng như một dòng thác tuôn trào mãnh liệt, thì cõi văn chương nghệ thuật là một hồ nước lớn long lanh trong suốt, soi vào đó mỗi người nhận thấy mình ngời tỏ hơn. Sau ngày thống nhất mấy thập kỷ, tới nay cái gương thần hồ nước kia không còn long lanh như trước, bởi nó đã đón nhận nguồn nước từ nhiều dòng chảy phồn tạp của một hiện thực mới đổ vào mà dòng thiêng xưa thiếu nguồn năng đủ mạnh để tiếp nhận và thanh lọc. Cõi văn chương trở nên nhiễu tạp, xã/phường lập hội khuê văn, nhà nhà sản xuất thơ và các “nhà” nhiều “tự tin” này đều có chung một khao khát được chính danh bằng một tấm thẻ hội viên ở các hội/đoàn trung ương, và hiển nhiên, Hội Nhà văn Việt Nam là một điểm đến có sức hấp dẫn lớn. Đây là một xu thế có thật!

2. Một câu hỏi đặt ra (nhìn từ Thơ):

Quan niệm giá trị nào đã dẫn thơ đến tình trạng dễ dãi và xuống cấp như vậy, trong khi thơ là một loại hình nghệ thuật ngôn từ tinh túy nhất, đòi hỏi sự khu biệt và nghiêm cẩn nhất? Theo tôi có hai lý do cơ bản: Một, xuất phát từ phong trào lập các Hội đoàn, Câu lạc bộ trong đó có Câu lạc bộ thơ mở ra khắp các xã/phường. Thơ đã tự hòa tan mình để thích nghi làm một hình thức giải trí mua vui. Hai, đời sống xã hội con người Việt Nam còn đơn sơ giá trị tinh thần, tiêu chí thẩm mỹ và năng lực thụ cảm nghệ thuật. Hệ quả này nguồn khởi từ hệ giáo dục đào tạo các cấp học còn chịu nhiều bảo thủ, dè dặt sợ “tự chuyển hóa” dẫn đến tự hạn chế, rốt cục vẫn duy trì bền bỉ tính giáo điều từ giáo trình đến phương pháp, hài lòng với thói quen “cây nhà lá vườn” tự tiêu tự sản trong cái khuôn khổ xã hội nông nghiệp nông hộ của mình. Suy rộng ra đây cũng chính là một “điểm nghẽn” thể chế mà Tổng bí thư Tô Lâm đã nêu.

Có vấn đề tưởng đơn giản song lại khá căn cốt và nó gây nhầm lẫn về một quan niệm văn chương, là sự “sang trọng” hay “cao quý” trong đời sống sáng tác văn thơ. Lỗi, nếu có thể hạ chữ này, từ việc xác lập giá trị người cầm bút sáng tác thơ văn coi tấm thẻ hội viên là một đảm bảo "cao sang", chứ chưa có nhận thức đúng đắn về sứ mệnh "cao quý" mà vô cùng nhọc nhằn của nghiệp bút nghiên. Nhà văn để hi vọng sáng tác được tác phẩm có giá trị xứng đáng với danh gọi Nhà văn, thì tác giả đó phải coi văn chương như sinh mạng, dám dấn thân cho sự thật xã hội và chân lý nghệ thuật. Khi nhà văn nâng cây bút, trải trang giấy sáng tác phải là một nghi lễ bày tỏ tình yêu thương, nhằm cưu nâng lấy kiếp phận con người, cho sự cao quý của tồn tại con người. Và nhà văn phải biết quên, thậm chí trong số họ có người không hề biết đến cảnh sống tiện nghi, những nghi thức sang trọng. Nhà văn có thể chỉ một mình trong đơn độc, khổ nhọc vẫn tạo nên thứ nghi lễ cao quý là sáng tạo, để cống hiến cho đời tác phẩm văn chương hữu ích. Trong khi tính lụy hình thức đang được coi như là một giá trị lớn của con người Việt Nam mà tấm thẻ hội viên Hội Nhà văn cũng là một thể hiện cho lối sống đó. Hình dung Hội Nhà văn trong biểu tượng như một hồ nước trong suốt có chiếc gương thần, soi vào thấy bóng dáng thời đại và lịch sử, thì đã có lúc cái hồ nước long lanh kỳ diệu đó bị lu mờ, giảm khả năng thấu bóng, phản tỉnh.

3. Đề xuất:

Hội Nhà văn Việt Nam đã đến lúc cần phải mạnh mẽ thay đổi, để kiến thiết Ngôi Nhà Văn Chương cho Thời kỳ phát triển mới.

Tôi xin đưa ra 5 đề xuất:

A, Số lượng hội viên (tạm ước định) bất di bất dịch số 1000 thành viên và nên giới hạn dần theo thời gian. Như vậy có nghĩa việc kết nạp thêm hội viên mới với số lượng bao nhiêu, tùy thuộc vào số hội viên mất đi trong năm đó.

B, Chỉ xét kết nạp với quy định trường hợp tác giả được một trong hai thành viên, là Ban chấp hành hội và Hội đồng Nghệ thuật có thư mời gia nhập Hội.

C, Giải thưởng hàng năm của Hội Nhà văn chỉ xét tặng cho mỗi thể loại Thơ, Văn xuôi, Lý luận phê bình, Dịch thuật, Văn học thiếu nhi, một giải duy nhất. Thể loại không có tác phẩm xứng đáng thì không có giải.

D, Gía trị giải thưởng cao quý ở danh dự. Vì vậy, tiền thưởng có thể nhiều, rất nhiều; hoặc không có thì chỉ mang tính tượng trưng.

H, Hội Nhà văn nên sớm đề xuất với Chính phủ việc thành lập “Viện dịch thuật và Quảng bá Văn học Việt Nam ra thế giới”.

9/2026

ĐTK