
Lịch sử và thi ca cổ điển là “cái cán giáo” của “cây giáo” thi ca hiện đại. Bỏ đi “cán cán giáo” ấy, thi ca hiện đại chỉ còn là “mũi giáo ngắn”, chỉ còn là “con dao găm” - “cận chiến” thì được, mà gặp “trường trận” là mất lợi thế!
Phùng Văn Khai say mê và nhiều năm nay, đổ sức nghĩ và sức viết vào đề tài lịch sử rất nhiều - nhiều như ta đã biết. Đó là :
- Các bộ tiểu thuyết lịch sử.
- Các bộ khảo cứu danh địa, danh thắng, danh nhân, danh tộc...
Chắc là vì thế mà, trong thơ Phùng Văn Khai, luôn nổi bật mạnh mẽ, ba “vùng thơ” đáng quý :
I - Cảm ứng/ cảm thức lịch sử mạnh mẽ.
II - Cảm thức sâu sắc trước sự nghiệp và danh phận/ thân phận các nhân vật lịch sử.
III - Không thiếu đời sống hôm nay.
Ta hãy lần lượt “thám hiểm” ba “vùng thơ” ấy của Phùng Văn Khai!
VÙNG I: CẢM ỨNG/ CẢM THỨC LỊCH SỬ MẠNH MẼ
- Ở bài “Sông Hồng”:
“Lặng thầm đã mấy nghìn năm
Mà sông vẫn trẻ như trăng lạ kỳ
Như người, sông mải thiên di
Mà thành quốc thổ xanh rì nghìn năm”.
+ Ba câu đầu làm ta gợi nhớ thơ xưa:
“Ta ngừng chén hỏi ông trăng tỏ - Ông lên trời từ thuở mấy mươi”
“Người xưa từng ngắm trăng này - Người nay nào thấy trăng này xa xưa”
(Lý Bạch - Bả tửu vấn nguyệt - Ngừng chén hỏi trăng).
“Năm châu cũng một ông mà - Nghĩ ra thì lại mỗi nhà một ông” (Tú Xương)
+ Câu cuối mang sức nặng phù sa, sức mạnh mở/ nuôi châu thổ, mở/ nuôi giang sơn!
Phùng Văn Khai không thiếu những câu thơ rất gợi - gợi ý, gợi tâm.
- Ở bài “Chùa Cổ Pháp” (chính là chùa Hương Ấp - Vạn Xuân tự, Phổ Yên - Thái Nguyên, nơi Lý Bí tu thời niên thiếu):
“Lầu son, gác tía, ngai vàng
Đã thành thăm thẳm lau ngàn gió reo”
...
“Nghìn năm mây trắng phân vân
Về soi bóng một mảnh sân chùa làng”.
- Ở bài “Văn Miếu”:
“Cần chi bia đá bảng vàng
Chỉ mong nước thịnh dân an, ngậm cười”.
- Ở bài “Đường Lâm”:
“Con lẫm chẫm tìm về đất tổ
Đã thấy đình, đền xanh bóng cây
Tượng vua vấn vít hương trầm phủ
Dân xuống đồng trong bụi mưa bay”.
- Ở bài “Phố Hiến”:
“Thuyền về đâu cánh buồm giong
Người đi đâu để thư phòng gió hoang
Sắc vua lệnh chúa mang mang
Về đâu? Một sắc thu vàng cỏ hoa”.
- Ở bài “Hành cung Cổ Bi” (Hành cung Cổ Bi là hành cung của Chúa Trịnh Cương - nơi có đình thờ Lý Phục Man, một tướng của Lý Nam Đế. “Thứ nhất Cổ Bi, thứ nhì Cổ Loa, thứ ba Cổ Sở” - Cổ Bi, Cổ Loa ta đã biết rồi, Cổ Sở chính là Yên Sở, tên Nôm là làng Giá Lụa, nổi tiếng là 3 nơi phong lưu, giầu có, chịu chơi):“Trịnh chúa dốc lòng xây vương nghiệp
Huân công còn sáng dưới sao trời
Cổ Bi ấm vững cây xanh đất
Mấy trăm năm còn nhớ ơn người”.
...
“Một sáng mùa thu vuông cỏ biếc
Tìm trong sách sử giữa hương thơm
Tươi màu nắng mới cây buông quả
Mặt người thắm thiết cũng như chuông”.
- Ở bài “18 vị La Hán chùa Gia Thượng” (Chùa Gia Thượng - Tiêu Dao bảo tự, Bồ Đề, Long Biên) :
“Ừ ngày, ừ tháng, ừ năm...
Thiên hạ thịnh suy cuộc xoay vần
Riêng nếp chùa làng nguyên vẻ cũ
Đôi hàng tượng Phật vẫn thanh tân”
...
- Ở bài “Hội đình Triều Khúc” (nơi Phùng Hưng hội binh để đánh thành Tống Bình - Hà Nội bây giờ):
“Quân dinh thánh tướng họ Phùng
Đình làng Triều Khúc ầm ầm binh xa”.
- Ở bài “Trước đền Triệu Việt Vương”:
“Lời người xưa dặn dân là gốc
Vằng vặc vầng trăng mãi sáng soi”.
- Ở bài “Trước mộ Thái sư Trần Thủ Độ” (Hưng Hà, Thái Bình cũ):
“Thân làm trụ cột, đại thần
Hố gai, miệng vực trăm lần gian nguy
Sá gì điều tiếng thị phi
Kìa cây đại thụ xanh rì trời xanh”.
- Ở bài “Dưới chân tượng đài Phùng Khắc Khoan”:
“Bỗng thấy mây trời sà vai tượng
Chòm râu lay động nét môi cười
Quan Trạng nói gì cùng hậu thế
Chỉ thấy trời xanh bóng hạc trôi”.
- Ở bài “Ghi ở Trùng Quang tự” (Đô Lương, Nghệ An):
“Ngoại thích lộng quyền dân mất nước
Bôn ba gai mật kháng Minh triều
Thù sâu khôn trả đầu xanh bạc
Trùng Quang cổ tự đá xanh rêu”.
Những câu này “buộc” người đọc phải thấy lại cái khí vị trong những câu thơ Đặng Dung xưa (Quốc thù vị báo đầu tiên bạch - Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma - Đặng Dung).
- Ở bài “Tưởng niệm Đại tướng Lê Trọng Tấn”:
“Những gì dặn lại hậu nhân
Đều trong phép nước, phép quân cả rồi
Trong veo đôi mắt ông cười
Thong dong như cánh buồm xuôi cuối nguồn...”
(Xuất phát từ hai câu thơ Tào Mạt viếng Đại tướng: “Chơ vơ dưới cửa ba nghìn khách - Lạnh lẽo trong lòng chục vạn binh”).
- Ở bài “Hoa đại Nhà số 4”:
“Này mặc khách này tao nhân
Người cao như núi vũ vần như mây
Đánh Đông, dẹp Bắc, bình Tây
Có nghe hoa đại đêm ngày tỏa hương”.
- Ở bài “Thư gửi Hoàng Liên Sơn”:
“Này thỏ, này rùa, này chó đá
Cổng làng rêu phủ hoa gạo rơi
Quân vương xuống tóc nhường thiên hạ
Muôn nỗi riêng - chung mấy góc trời”.
- Ở bài “Đối thoại cùng lô cốt bên sông”:
“Ầm ầm đất chuyển rung đồng bãi
Những bến sông chi chít sao vàng
Từng lô cốt phất phơ cờ trắng
Tây đen, Tây trắng kéo ra hàng.
Đồng bãi bình yên từng ngõ nhỏ
Tiếng gà vang vọng bến sông quê
Ngày mới rộn ràng con chim hót
Lô cốt chừng như đã ngủ mê.
Đã ngót trăm năm chôn bóng nước
Vẫn còn nguyên lau trắng tơi bời
Người mất, xương đưa về cố quốc
Khối bê tông câm lặng không lời”.
- Ở bài “Ta từ nguồn cội”:
“Tổ tiên ta từ ngày thứ nhất
Đã chia nhau xuống biển, lên rừng
Trang thơ ta viết dòng thứ nhất
Nỗi buồn thương chất chứa, mênh mông.
...
“Manh áo cha nhường con khâm liệm
Thân vùi cát ẩm bãi sông quê
Mà thành tiên thánh trong sử sách
Tục ngữ, ca dao vẫn vọng về.
...
Bàn chân ai dẫm chông mác nhọn
Máu cũng vì ta đỏ lá cờ
Lá cờ cũng đỏ từ nguồn cội
Ông bà cha mẹ tổ tiên ta”.
“Lá cờ cũng đỏ từ nguồn cội
Ông bà cha mẹ tổ tiên ta”
Là hai câu thơ của một người không những yêu lịch sử mà còn thấu đạo thờ cúng tổ tiên của người Việt.
VÙNG II: NHIỀU THẤU CẢM SÂU SẮC TRƯỚC SỰ NGHIỆP
VÀ DANH PHẬN/ THÂN PHẬN CÁC NHÂN VẬT LỊCH SỬ
Đi điền dã, đi thăm thú, với nhà thơ thì câu hỏi của người đọc: “Tâm thức của nhà thơ ở nơi đó là thế nào?”, quan trọng hơn nhiều so với câu hỏi: “Cảnh ở nơi đó thế nào?” của du khách thông thường.
Thơ Phùng Văn Khai có nhiều lời đáp cho câu hỏi đầu:
- Ở bài “Thành Cổ Loa”:
“Lẫy nỏ oan khiên phận thiếp - chàng
Ngai vàng gãy đổ nước tan hoang
Gươm báu đứt lìa tình phụ tử
Thân trai ngậm ngọc lệ đôi hàng.
...
Không ước ngai vàng mơ kiếm báu
Chỉ mong đầy đặn kiếp nông phu
Sớm nước chè xanh nơi thành cổ
Tối xếp bằng chân rượu nửa vò.”
- Ở bài “Nghè Vẹt”(hình chim vẹt - thờ 12 pho tượng gỗ - 12 tượng Chúa Trịnh, từ Trịnh Kiểm đến Trịnh Bồng ở Vĩnh Lộc, Thanh Hóa):
“Mẹ ta ngày tháng tảo tần
Nón mê, váy đụp, chân trần nuôi ta
Lớn khôn gây dựng sơn hà
Cúi đầu nhớ mẹ riêng ta nỗi niềm”.
- Ở bài “Vườn tượng chùa Nôm mùa xuân”:
(Chùa Nôm là một trong những ngôi chùa tối cổ ở Văn Lâm, Hưng Yên)
“Khách chừng nghễnh ngãng, cây chừng biếc
Bóng tượng nghiêng dần xuống cỏ xanh
Đàn cá rộn ràng bơi mải miết
Thủy đình, chuông gió tiếng lanh canh”.
- Ở bài “Vườn cảnh chùa Gia Thượng”:
“Thế long giáng, thế hổ ngồi
Nghiêng như thác đổ giữa trời hiên ngang
Nghe trong tiếng gió thu sang
Đều từ gốc nước, cội làng mà xanh”.- Ở bài “Chuông gió chùa Gia Thượng”:
“Ai người đáy bể mò kim
Ta trong vườn tượng lặng im chùa làng
Binh boong chuông gió đôi hàng
Thảo thơm nguồn cội đá vàng xưa sau.
...
Tiếng chuông từ những nông sâu
Như triền dâu nối triền dâu sông Hồng
Việc đời sắc sắc không không
Tiếng chuông thong thả bềnh bồng hôm mai”.
- Ở bài “Đền Đôi Cô”(ở xã Bắc Cầu, Long Biên, nơi nhà thơ cư trú nhiều năm nay):
“Ẩn tàng trong nước sông kia
Biết bao thân phận đi về những đâu?
Nhìn sông chia nước ai đau?
Người lên núi kẻ bể dâu cuối nguồn”.
- Ở bài “Hội làng Bắc Cầu”:
“Đợi em từ độ trăng lên
Đến ngày trăng lặn chưa quên câu thề
Mười năm vun cội bồ đề
Cây ngày một lớn, lời thề một xa”.
- Ở bài “Nghè Khoai” (Nghè Minh Khai trên đất làng Khoai - Như Quỳnh, Hưng Yên):
“Nghè Khoai nức tiếng người hay chữ
Chữ cũng như người cũng bể dâu
Bát cơm thơm ứa hai hàng lệ
Thương mùa giáp hạt cánh đồng sâu.
...
Chiều ba mươi Tết sân nghè vắng
Chùm ngâu năm ngoái đã thơm hương
Ngựa gỗ vẹn nguyên màu sơn cũ
Ai đó chờ ta trong tiếng chuông”.
- Ở bài “Cảm tác tranh Đông Hồ”:
“Qua bao năm tháng lửa đèn,
Chỉ mơ nâng vạt áo em hứng dừa
Ta giờ tỉnh giấc mơ xưa
Từ trong tranh mỹ nhân vừa bước ra”.
- Ở bài “Cảm thức trước hoa sen”:
“Sen nở, sen tàn mà chi nhỉ
Mùa đến, mùa đi cỏ xanh trời
Sen khuất, mặt bùn im lặng quá
Ta bỗng hai hàng nước mắt rơi”.
- Ở bài “Chợt mùi hương bưởi”:
“Vẫn mùi hương bưởi đấy thôi
Mẹ già tóc bạc đêm ngồi đếm sao
Ta tìm chức trọng quyền cao
Biết chăng hương bưởi xanh xao đợi người”.
- Ở bài “Thư gửi Hoàng Liên Sơn”:
“Kẻ ở trên rừng thuần thú dữ
Thú dữ kia có oán con người?
Hổ vằn da, người vằn trong bụng
Vì lẽ gì đây, thế nhân ơi?”.
... Từ những cội nguồn dâu bể ấy
Lời ru, câu hát tổ tiên ta
Từ những đình, đền, chùa, miếu ấy
Thêm mỗi ngày ta khôn lớn ra”.
...
Ta phải sống như người còn sống
Mặc giáo điều, khinh suất, thị phi
Bao nhiêu xương máu người nằm xuống
Có lẽ nào ta ngoảnh mặt đi?
VÙNG III: NHƯNG VẪN KHÔNG THIẾU
ĐỜI SỐNG HÔM NAY QUANH MÌNH
Trong vùng này, Phùng Văn Khai nói với mình là chính, dù là đang nói với ai :
- Ở bài “Thơ viết cho mình”:
“Ta sao có lúc hung hăng quá
Vung tay, to tiếng trước tượng đài
Tranh khôn với khắp người thiên hạ
Nào biết kiêng dè với một ai.
Công danh bát mẻ khinh khoai sắn
Tiền tài dăm cắc bỉ Đông - Đoài
Cua cá trong nồi giương vây vảy
Cha càng im lặng, nói cùng ai?
Rồi tự mình ta trên đường lớn
Tiền hô hậu ủng cũng vui tai
Ti vi phát biểu càng hăng lắm
Cha vẫn lặng thầm bóng hôm mai.
Cứ mãi thành quen thành thói sống
Ông kia, bà nọ, phải thế này
Cha thì vẫn ở trong làng nhỏ
Vẫn lặng thầm không một mảy may”.
- Ở bài “Nói với chị đánh giày”:
“Ta chừng tóc đã chen sợi trắng?
Tóc trắng dường như bớt lắm lời?
Chị đánh giày lại càng ít nói
Cây bên đường lặng lẽ lá rơi”.
- Ở bài “Thơ về người vợ”:
“Cứ thế lam làm mê mải sống
Bàn tay ta cầm lấy tay mình
Nhớ sao hết mùa đông thăm thẳm
Càng chẳng trách gì những nổi nênh.
...
Mà quên mất người chồng thói tật
Văn chương bia rượu ngút mây trời
Tài hoa dâng hết cho thiên hạ
Tàn canh sực nhớ đến niêu nồi”.
...
Người vợ từ lâu rồi đã biết
Nhưng trước chồng biết nói sao đây?
Đâu dễ buông ra lời áo gấm?
Đành âm thầm nhặt cỏ bông may.
Đành cần mẫn như hoa dâng mật
Như tượng trong chùa hương khói bay
Nước giếng thơi đỡ người cơn khát
Mở cửa ta về những đêm say”.
- Ở bài “Trước hai ông tượng” (Ông Thiện và ông Ác):
“Ta thử làm ông quan lương thiện
Liền bị đồng liêu lánh như tà
Làm gì có quan viên thanh sạch?”.
...
Ta vái lạy sao ông không nói?
Làm ác với người khó thế ư?
Làm thiện không xong đành một nhẽ
Làm ác xong không? Đến bao giờ?”
- Ở bài “Trước chợ đêm Long Biên”:
“Đừng hỏi nhau những gì duyên phận
Những chị nuôi con chỉ một mình
Những anh xong án không nơi nhận
Những đơn côi cuối rễ, đầu ghềnh.
Đừng nói với nhau lời đạo đức
Vết chém còn in giữa mặt người
Càng không nên nhắc lời đức hạnh
Những đứa con không bố chào đời.
Ta hãy vì nhau mà ít nói
Núi hàng kia có nói chi đâu?
Đồng bạc nát nhàu trong im lặng
Giọt mồ hôi im lặng đêm thâu.
Ta hãy bước đi trong đêm lạnh
Từng miếng ăn do chính tay mình
Bàn tay cha mẹ cho máu thịt
Mặc kệ trời cao kia lặng thinh”.
- Ở bài “Cuối năm trò chuyện với cây”:
“Cây có như người, cây có biết
Chiều nay một buổi cuối năm không?
Ta biết bao người ta vội vã
Mộ tổ tiên cỏ mọc hoang đồng.
Cánh đồng làng cây đa còn đó
Vết sẹo thời gian ứa lưng trời
Bầy trâu hợp tác không còn nữa
Một mình cây đứng dưới mưa rơi.
Cây gạo cuối làng thân sét đánh
Sao hoa còn đỏ đến bây giờ?
Ta bỏ làng đi cây đứng khóc
Đến bây giờ nước mắt chưa khô”.
Hàng nhãn ngày chăn trâu cắt cỏ
Ta leo trèo quần thủng lem bem
Hình như ánh mắt cô bạn học
Muốn nói điều chưa gọi thành tên?
...Ta đi trăm ngả vì đâu nhỉ?
Mộng công danh chồng chất nợ nần
Sao cội rễ làng không giữ được?
Hồn còn không tiếc, tiếc chi thân?
Chiều cuối năm bỗng thành hành khất
Cây cũng từ lâu bỏ ta rồi
Thân đã bỏ bàn chi còn - mất
Nghĩ về cây nước mắt ta rơi!”.
- Ở bài “Trò chuyện với sen”:
“Sen vẫn im lìm trong bùn đất
Bùn đất kia nuôi nấng ta khôn
Ta khôn có nhớ về bùn đất?
Hay chỉ như cáo mượn oai hùm?”
Hùm thiêng cũng đến bờ sinh - tử
Như sen thiêng cũng trở về bùn
Ta tìm sen hỏi điều gì nhỉ?
Có còn không dấu vết cố hương?
Cố hương đây sao xa tít tắp?
Như sen kia đã thẳm chân trời
Mặt nước càng gần càng im lặng
Hỏi mà chi ai sẽ cất lời?
- Ở bài “Trò chuyện với cội mai già trên vách đá Hương Sơn”:
“Cội mai cũng lặng im như núi
Mặc đất trời vần vũ đảo điên
Tháng tháng, năm năm xanh ngẫm nghĩ
Cùng với trời sao cùng trăng đêm”.
Trong “Lời giới thiệu” tập thơ của mình, Phùng Văn Khai viết :
- Bài đầu tiên viết chiều 20 tháng 11 năm 2025 tại sân chùa Gia Thượng, bài tạm khép tập thơ cũng tại sân chùa ngày 13 tháng 1 năm 2026. Con số thời gian vắt hai năm, thời gian thực tế chưa đầy hai tháng...
- “Thơ viết cho mình trước hết là để giải phóng và thỏa mãn chính mình... tất thảy đều từ tấm lòng riêng mong muốn hòa vào tấm lòng chung thiên hạ trong khả năng biểu đạt của mình”...
- Tôi luôn chủ trương mỗi bài thơ phải được kể ra như một câu chuyện, hội tụ từ nhiều câu chuyện, đan cài vào nhau, bổ sung cho nhau, góp phần làm giàu trí tuệ và tâm hồn của chúng ta trong cuộc sống. Ao ước luôn như vậy, song khi thực hành sáng tác cũng không ít lúc lực bất tòng tâm. Thực tế tài năng có hạn, đã dẫn đến có bài còn thô vụng, sơ sài, lại có bài dài dòng, luộm thuộm, nhưng cũng chẳng biết phải làm sao?
Thật là tâm huyết và thành thật!
- Chữ sở dĩ tinh vì “thiên ma bách chiết” (ngàn lần mài mực, trăm lần chẻ chữ).
Thép sở dĩ cứng vì “tôi qua lửa đỏ và nước lạnh”.
- Chữ của Phùng Văn Khai ào ạt như thác đổ - hãy nhìn lượng chữ mà Phùng Văn Khai đã in trong các thể loại sách những năm gần đây.
- Hình như Phùng Văn Khai phải “xả” hết, phải “chiếm kỷ lục” trước thời gian!
- Phùng Văn Khai như con ngựa Xích thố, những ngày này không thể ghìm cương. Người đọc sau này sẽ làm việc ấy!
- Chỉ mong thời gian hãy dành thật nhiều thời lượng cho con ngựa Xích thố này!
Trân trọng!