Trang chủ » Bầu bạn góp cổ phần

NHỚ NGÀY ĐÁNH QUÂN XÂM LƯỢC TRUNG HOA THÁNG 2-1979 – NGÀY HỘI DIỄN NGHỆ THUẬT QUẦN CHÚNG.

Hoàng Quốc Hải
Thứ bẩy ngày 21 tháng 2 năm 2026 9:13 AM




Từ nửa cuối năm 1978, Bộ Văn hoá chủ trương mở Hội diễn dân ca, dân nhạc truyền thống cho các tỉnh từ Quảng Trị trở ra phía Bắc. Ấn định khai mạc vào ngày 20 tháng 2 năm 1979. Sở Văn hoá tỉnh Hà Bắc ( Bắc Ninh – Bắc Giang ) đăng cai, lấy thị xã Bắc Ninh làm địa điểm hội tụ. Khoảng 15 – 16 tháng 2, nhiều tỉnh đã cho tiền trạm đến nhận địa điểm ăn ở và chuẩn bị cơ sở vật chất cho đoàn mình. Một vài đoàn có đạo cụ cồng kềnh đã kéo cả đoàn về trước. Các thành viên Ban tổ chức Hội diễn chúng tôi hầu như ngày 15 đã có mặt đầy đủ tại Bắc Ninh, và tiến hành kiểm tra khâu chuẩn bị của đơn vị chủ nhà xem đã hoàn tất chưa.

Bất chợt sáng sớm 17( tháng 2 năm 1979) có tin khẩn: Giặc bành trướng Trung Hoa xua quân đánh tràn vào 6 tỉnh biên giới phía Bắc nước ta. Ban Tổ chức trở nên bối rối, chưa biết quyết định thế nào. Hoãn hay tiếp tục? Trong khi đó các tỉnh tới tấp điện về hỏi có tiếp tục hội diễn hay hoãn, để địa phương còn lo công việc thời chiến.

Bộ trưởng Bộ Văn hoá Nguyễn Văn Hiếu như ngồi trên đống lửa. Bàn nát nước vẫn chưa tìm ra giải pháp, sau quyết định xin ý kiến Thủ tướng Chính phủ. Lập tức ban cơ yếu nối máy cho Bộ trưởng báo cáo tình hình trực tiếp với Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Sau khi nghe Bộ Văn hoá báo cáo thực trạng đang diễn ra. Phút yên lặng nặng nề đến nghẹt thở. Bỗng đầu dây bên kia vang lên giọng nói khàn khàn quen thuộc: -“ Việc nào việc ấy, cứ tiếp tục. Phải bình tĩnh làm cho thật tốt việc của mình, để các chiến sĩ ngoài mặt trận yên tâm dẹp giặc. “Nói xong Thủ tướng cười khà khà khiến mọi việc trở lên nhẹ nhàng.

Sáng 20 tháng 2 năm 1979, sau lời thông báo ngắn gọn về tình hình chiến sự trên biên giới mấy ngày qua. Bộ trưởng đọc lời khai mạc cũng ngắn gọn, khẩn trương với tinh thần thời chiến. Hội diễn bắt đầu ngay.

Khách mời không nhiều, ngoài một số khách hạn chế từ Hà Nội có thêm lãnh đạo tỉnh Hà Bắc. Đặc biệt các tuỳ viên văn hoá Đại sứ quán các nước trong và ngoài khối Xã hội chủ nghĩa đều được mời. Tùy viên văn hóa các nước trong khối Xã hội chủ nghĩa đều có mặt đông đủ. Tùy viên văn hóa các nước trong khối dân chủ chỉ thấy loáng thoáng như Thụy Điển, Pháp, Canada, Nhật Bản, Irak... Ngày ấy nước ta đang bị Mỹ và quốc tế cấm vận, bao vây kinh tế, chỉ những quốc gia có thiện cảm lắm với Việt Nam từ những năm chiến tranh chống Mỹ, mới có quan hệ ngoại giao chính thức.

Đoàn Nam Định diễn buổi khai mạc. Màn vừa mở, cảnh tượng sân khấu choáng ngợp khiến khán giả tỏ vẻ kinh ngạc. Nào hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng, nào sập gụ, độc bình … trang trí, rõ ra một ngôi nhà cổ kính với không khí thanh bình tưởng như nó đã tồn tại từ thuở bình minh của dân tộc cho tới tận ngày nay.

Chiếc đỉnh trầm khảm tam khí ( 3 mầu: đồng đỏ, đồng đen, bạc trắng), khói bay nhè nhẹ, mùi hương xạ tỏa khắp không gian tĩnh lặng. Tiếng nhạc dặt dìu theo chân các diễn viên lên sân khấu. Dẫn đầu là Nghệ sĩ nhân dân Qúach Thị Hồ, tay cầm cỗ phách đã lên mầu mun bóng, bà phục sức rất sang trọng, lịch lãm mà tinh tế theo phong cách thời trang nước ta khoảng nửa đầu thế kỷ 20: Đầu vấn khăn nhung đen, tóc bỏ đuôi gà, áo dài nhung mầu huyết dụ đính kim sa, vai khoác chiếc khăn tua Cachemire ( khăn quàng Ấn Độ loại sang ), quần sa tanh đen tựa lĩnh Bưởi ngày xưa, chân đi hài cườm, từng bước, từng bước nhẹ nhàng, kiều diễm, quí phái.

Tiếp theo là Nghệ sỹ nhân dân Phó Đình Kỳ, tay kép đàn đáy nổi tiếng của Hà Nội, cùng thời với các kép đàn Chu Văn Du, Đinh Khắc Ban… và các ca nương Qúach Thị Hồ, Kim Đức …

Bữa nay ông Chu vận áo dài gấm lam, hoa văn chữ Thọ, đầu đội khăn xếp mầu đen; sau lưng đeo chiếc đàn đáy, cần đàn cao quá đầu. Sau nữa là nghệ sĩ đánh trống chầu, tay xách quai chiếc trống khẩu cùng chiếc roi trống hơi dài. Ông này mặc áo the cặp. Trong áo dài trắng, ngoài phủ áo sa đen cải hoa chữ Thọ.

Ban hát vừa an toạ xong, người dẫn chương trình giới thiệu tiết mục vừa dứt, lập tức tiếng phách nổi lên lách tách rộn rã như tiếng châu ngọc nẩy trên mâm vàng. Tiếng đàn đáy vừa nảy vài âm đùng đục, liền đó ca nương Qúach Thị Hồ cất cao giọng…

Hồng Hồng Tuyết Tuyết,

Mới ngày nào còn chưa biết chi chi.

Mười lăm năm thấm thoát có xa gì,

Ngảnh mặt lại đã tới kỳ tơ liễu.

Ngã lãng du thời quân thượng thiếu,

Quân kim hứa giá ngã thành ông…

( Thơ Dương Khuê )

Khi bà Qúach Thị Hồ vừa cất lên giọng hát thì tiếng đàn, tiếng trống im bặt ít giây. Dường như Ban nhạc muốn khoe chất giọng mộc của ca nương. Tôi để ý thấy đôi tay nghệ sĩ Quachs Thị Hồ vẫn giữ nhịp phách, cặp môi nghệ sĩ vẫn khép mà sao âm thanh vẫn phát ra trong trẻo một cách lạ kì. Từng âm, từng âm nhả ra, như từng viên ngọc đã chuốt tròn vo.

Theo dõi mấy ông khách Tây ngồi hàng ghế đầu. Thoạt tiên là họ có ngỡ ngàng với cách bài trí sân khấu. Tiếp đến là sự bất ngờ bởi tốp diễn viên già và những thứ nhạc cụ sơ sài, như vừa đào bới được ở đâu của mấy nhà khảo cổ, đã vội đưa lên sân khấu. Tôi đọc được sự thất vọng ấy, hiện rõ trên ánh mắt của các Tuỳ viên văn hoá này. Nhưng khi tiếng đàn tiếng phách, thảng lại điểm tiếng trống chầu, cùng lúc tiếng hát cất lên thì những cặp mắt kia giương hết cỡ cùng với cái miệng há hốc vì kinh ngạc. Và từ đó hồn họ bị hút cuốn vào cõi nhạc huyền bí mà trong đời họ chưa một lần được thấy ở bất cứ phương trời nào.

Sau bài “Hồng Hồng Tuyết Tuyết”, nghệ sỹ Quách Thị Hồ còn biểu diễn thêm hai bài : “ Cảm thu, tiễn thu” của thi sỹ Tản Đà, và bài “Người đẹp không thấy lần hai”. (Bài này từ xưa vẫn lưu truyền, nhưng không truy tìm được tác giả).

Màn vừa khép lại để chuyển tiết mục, anh Tuỳ viên văn hoá Roumanie ngồi cạnh, đột ngột hỏi tôi:’’- Pardon monsieur, parlez vous francais ? ‘’( Xin lỗi, ông nói được tiếng Pháp chứ ? ) Tôi đáp:-“ Un peu, oui Monsieur” ( Vâng thưa ông, chút ít thôi ạ). Thế là họ quây lấy tôi hỏi. Rằng tại sao Việt Nam có loại âm nhạc thính phòng hay và quí phái ( noble ) dường này mà tận bây giờ chúng tôi mới được biết? Tuỳ viên văn hoá các nước Bulgarie; Hungary, Đức; Tiệp… đều sử dụng tiếng Pháp thành thạo. Hầu như tất cả họ đều lấy làm tiếc vì không đem theo máy ghi âm hoặc máy quay phim. Chắc họ nghĩ rằng cũng chẳng có gì đáng ghi lại, duy có sự tò mò muốn xem cái dân tộc này họ bình tĩnh tới mức nào mà quân xâm lược đang ào ạt tiến vào như nước triều dâng, họ vẫn thản nhiên mở Hội diễn nghệ thuật.

Hầu hết các tùy viên văn hóa Đại sứ quán các nước tham dự hội diễn đều đề nghị được ghi âm. Như vậy phải diễn lại một số tiết mục theo yêu cầu của họ. Tôi không dám quyết, chỉ hứa với họ, có thể được, nếu cấp trên của chúng tôi chấp nhận.

Tiết mục tiếp theo vẫn của đoàn Nam Định. Sân khấu bài trí rất sơ sài, khiến ta có cảm giác nơi đây là bãi đất trống nơi đầu chợ, hoặc một bến sông nào đó.

Giữa không gian hoang vu hiu quạnh đó, một bà lão khoảng ngoài 70 tuổi bước lên sân khấu một cách mạnh mẽ và tự tin. Đó chính là bà Hà Thị Cầu, một nghệ sĩ xẩm chợ nổi tiếng. Bà vận chiếc áo cánh lụa nâu, khuỷu tay áo đã sờn xơ, quần dài đen bạc mầu, đầu vấn khăn nâu non, ngoài chít khăn mỏ quạ đen nhờ, đuôi khăn đã có tua rua. Tay phải bà Cầu xách chiếc nhị, tay trái kẹp nách chiếc nón chóp tuột vành, miệng bỏm bẻm nhai trầu. Nom bà đầy chất phóng túng, phong trần, dân dã, nói theo ngôn ngữ hiện đại là”bụi.” Rất bụi! ! Bà ngồi xếp bằng trên mặt đất, bên cạnh là chiếc nón chóp để ngửa.

Bà Cầu, đảo mắt lướt nhanh khán phòng, đặt cây nhị trong lòng. Kéo thử vài âm. Tức là khởi động. Ngôn ngữ nhạc Tây, gọi là Prélude – Khúc dạo đầu.

Nom bà Hà Thị Cầu bước lên sân khấu với vẻ dân gian, mộc mạc hết cỡ, tay xách cây nhị nom cổ lỗ như nhạc cụ thời tiền sử. Lại nghe mấy âm dạo đầu thuần những nốt nhạc cao gắt. Mới nghe đã thấy nhão cả ruột. Thật tình không ai kì vọng gì nơi tiết mục xẩm chợ này. Tôi liếc nhìn mấy anh khách Tây, vẻ mặt họ có vẻ thờ ờ, thất vọng.

Bà Cầu lại cò cưa tiếp mấy tiếng nhị, rồi cất tiếng hát. Giọng kim lanh lảnh vút cao, khiến ai nấy đều giật mình, và có cảm giác những viên ngói trên mái lợp cũng phập phồng như sắp bật tung bởi sóng âm thanh quá mạnh. Lúc này các khách Tây vô cùng sửng sốt bởi một giọng hát khỏe, mộc, nhưng cuốn hút một cách kì lạ.

Bà được giới thiệu hát bài “Thập ân.” Nhưng lại mở đầu bằng bốn câu ca dao nói về công ơn cha mẹ:

Công cha như núi Thái Sơn. Chính cái từ “núi” theo vần trắc, bà đẩy lên, tựa như mũi tên vút thẳng tới chóp đỉnh núi cao. Chính bốn câu mở đầu này bà khiến khách nghe thảng thốt.

Tiếp đó bà dẫn thính khán giả vào nghe “Thập ân”:

.

Kể từ khi mẹ mới có thai,

Âm dương nhị khí nào ai biết gì.

Trong lòng luống những sầu bi,

Ruột gan chua xót mỗi khi vơi đầy...

Với giọng nỉ non, tỉ tê như người kể truyện, tiếng bổng, tiềng trầm quyến người nghe như được tham dự, được sẻ chia vào cảnh ngộ của người kể chuyện lòng riêng tư... Không khí khán phòng trở lên ấm áp lạ thường, dường như nó được tiếp nhận từ lời ca sâu lắng qua giọng hát ma mị của bà Cầu.

Gần nửa giờ, sân khấu vẫn lặng phắc. Cho tới khi bà Hà Thị Cầu đứng lên giơ chiếc nón tàng vẫy vẫy chào, khán giả mới sực tỉnh ào lên tiếng vỗ tay kéo dài tưởng như vô tận.

Giờ nghỉ trưa, trong bữa ăn, mọi người cứ nháo nhào kháo nhau tin tức ngoài mặt trận. Nhiều luồng tin khác nhau, nhưng chỉ là những tin đồn. Tới lúc này, tức là sau 3 ngày giặc đã vào bờ cõi, nhưng thông cáo chính thức vẫn chua rõ ràng. Vẫn chưa biết đích xác giặc đã xâm phạm bờ cõi ra sao, số lượng quân giặc là bao nhiêu. Thật tình chúng tôi chỉ nghe lõm bõm qua Đài BBC, tức là qua các hãng tin Phương Tây. Phần nhiều là tin thăm dò, phỏng đoán. Đại khái:.. Quân Trung Quốc rất đông, họ đánh theo chiến thuật “biển người”. Phía Việt Nam chiến đấu dũng cảm, thiện chiến. Vốn có mối thù truyền kiếp, nên người Việt Nam có thể lấy 1 chọi 10. Hơn nữa vũ khí, khí tài của Việt Nam ở đẳng cấp vượt trội so với dàn vũ khí lạc hậu của Trung cộng. Việt Nam vừa có vũ khí tiên tiến của Nga Xô viện trợ, vừa có rất nhiều vũ khí chiếm được của Mỹ sau chiến thắng 1975...

Buổi chiều có một số tiết mục múa khá ấn tượng, đó là điệu múa “Cá sa” rất cổ. Thực chất là điệu múa đèn, dàn dựng công phu từ trang phục, diễn viên, đạo cụ và vũ đạo. Đây là tiết mục múa của người dân tộc miền núi tỉnh Thanh Hóa, dường như phục vụ cho giới quí tộc lang, đạo.

Quan sát thấy tiết mục múa này không có một đường nét nào thuộc dòng múa Champa, cũng không có nét nào mang tính ngoại lai. Múa Việt Kinh càng không phải. Vì múa Việt không có cấu trúc phức hợp như Múa Cá Sa.

Rất tiếc, ban tổ chức hội diễn không có phương tiện ghi hình nên điệu múa này dường như đã biến mất khỏi gia tài văn hóa của chúng ta.

Tiếp nữa là điệu múa gọi là “Xòe Tà Chải” của huyện Bắc Hà tỉnh Lao Kai. Nếu như “Múa Cá Sa” tĩnh lặng, chậm rãi khiến có cảm giác không gian như ngưng đọng, thì “Xòe Tà Chải” hoàn toàn ngược lại. Điệu múa với các vũ điệu nhanh mạnh linh hoạt, đội hình biến ảo thật đẹp mắt. Có thể dùng điệu xòe này làm chuẩn mực múa dân gian.

Với các tiết mục đã trình diễn, hoàn toàn thuyết phục khán giả trong và ngoài nước.

Mấy tùy viên văn hóa nước ngoài ngồi gần tôi luôn tỏ lòng khen ngợi với từ “tuyệt”!

Sau khi nghe Cục chúng tôi báo cáo các yêu cầu của Tùy viên văn hóa các nước muốn được ghi hình lại một số tiết mục, Bộ trưởng Nguyễn Văn Hiếu chấp thuận.

Qua việc ghi của phượng tiện kĩ thuật tiên tiến, họ có tặng lại ta lưu trữ. Do đó năm 1980, UNESCO tổ chức liên hoan âm nhạc Châu Á Thái Bình Dương có mời nước ta tham dự. Vì kinh tế, tài chính hồi đó hạn hẹp, ta không cử được đoàn đi, mà chỉ gửi một cuốn băng ghi tiết mục của Nghệ sỹ tài danh Quách Thị Hồ tham dự. Kết quả, tiết mục của bà đoạt giải nhất. Sau đó được UNESCO in vào Đĩa than, phát hành toàn thế giới.

Cuộc Hội diễn phải kết thúc sớm, các đoàn đều cắt giảm tiết mục. Trong lời bế mạc ngắn gọn của Ban tổ chức để nhường lời cho đại diện lãnh đạo Quân khu Một báo cáo tóm tắt tình hình diễn biến chiến sự.

Tóm tắt sau 5 ngày quân Trung Quốc xâm lược vào 6 tỉnh biên giới phía Bắc nước ta, giặc bị đánh trả dữ dội, mũi tiến quân của giặc vào Lạng Sơn ác liệt nhất. Nhưng qua 5 ngày, giặc đang bị cầm giữ tại Pháo đài Đồng Đăng. Từ cửa khẩu gọi là “Hữu nghị”, cách thị trấn Đồng Đăng chỉ có 5 km. Và từ Đồng Đăng vào thành phố Lạng Sơn còn những 14 km.

Vài nét qua Hội diễn nghệ thuật quần chúng khai mạc sau 3 ngày quân xâm lược Trung Hoa tràn vào nước ta, với kết qủa sơ bộ như vừa nói, đủ biết bản lĩnh chống giặc phương Bắc của Việt Nam như thế nào.

Và điều thú vị nữa, ta vừa thắng giặc oanh liệt, vừa được lưu danh thế giới bằng lời ca tiếng nhạc, trong khi đó lịch sử dân tộc, thêm một lần nữa ghi vào hồ sơ tội ác kẻ xâm lược với xú danh thiên cổ.

Điều đặc biệt tôi muốn viết lại kỉ niệm này sau 47 năm quân Trung Quốc xâm lược, là bởi tôi tuổi đã cao, sợ để lâu nữa sức khỏe và trí nhớ không còn được như mình mong muốn, mà sự việc này nếu để mai một đi, chẳng là điều đáng tiếc lắm sao ?

Thị trấn Phú Thái quê hương ngày 20 tháng 2 năm 2026

(Kỷ niệm sau 47 năm đánh thắng giặc Trung Quốc xâm lăng)

Nhà văn Hoàng Quốc Hải