Tranh Trần Nhương
BÀI VIẾT MỚI

(Dân Việt) Sau những tranh cãi “nảy lửa” về yếu tố sex trong cuốn tiểu thuyết lịch sử “Chim ưng và chàng đan sọt” của tác giả Bùi Việt Sỹ, PV Dân Việt đã có cuộc trò chuyện với ông xung quanh vấn đề này.


Thưa nhà văn Bùi Việt Sỹ, mấy ngày nay cư dân mạng tranh cãi khá gay gắt về cuốn tiểu thuyết “Chim ưng và chàng đan sọt”. Vậy ông có thể chia sẻ về sự phản hồi này từ độc giả?

- Tôi cũng cảm thấy bình thường không vấn đề gì. Bởi về mặt nghề nghiệp, tôi cũng viết văn lâu rồi, từ năm 1967 tôi đã viết được gần chục cuốn tiểu thuyết. Còn về mặt con người tôi cũng đã trải qua chiến tranh. Năm 1964-1973 tôi làm công tác đảm bảo giao thông, đã từng tham gia mở đường Việt Nam – Lào, trên bom dưới đạn tôi đã trải qua.

Hơn nữa khi tôi viết về cuốn tiểu thuyết “Người đưa đường thọt chân” nói đến chuyện dự báo Liên Xô sụp đổ, tôi cũng đã bị nghi ngờ là phản động, đã bị theo dõi… Tất cả những điều đó, từ bom đạn đến nghi án chính trị đối tôi cũng đã trải qua.

Nên việc mọi người nói tôi là tôi viết tiểu thuyết sex, thô tục, thiếu tế nhị cũng không sao. Thậm chí tôi còn thấy thích là đằng khác, vì tôi là nhà văn, không được nổi tiếng lắm, nhưng giờ mọi biết đến và tìm đọc lại các cuốn tiểu thuyết của tôi thì đều khen hay. Chỉ có điều tôi hơi mệt một chút, bởi trả lời phỏng vấn liên tục.

Xem tiếp


 .Kim Long

 
Nhà văn, Nhà thơ, Họa sĩ Trần Nhương:
Triển lãm tranh “Thi hứng III

Sau “Thi hứng I”, năm 1998 và “Thi hứng II” năm 2003, chiều 28/4 triển lãm tranh mang tên “Thi hứng III” của Nhà văn, Nhà thơ, Họa sĩ Trần Nhương khai mạc tại Nhà triển lãm Hội Mĩ thuật Việt Nam, 16 Ngô Quyền Hà Nội.

Hiện vẫn làm việc tại Báo Người cao tuổi, lại là chủ trang web www.trannhuong.com (với gần 30 triệu lượt truy cập) nhưng Họa sĩ Trần Nhương vẫn dành thời gian miệt mài sáng tạo. Với ông, đó không chỉ là niềm đam mê của người cầm bút mà còn là trách nhiệm của một họa sĩ trước cuộc sống hôm nay. Trong triển lãm lần này, Họa sĩ Trần Nhương sẽ giới thiệu đến người xem thủ đô 

và bạn bè cả nước gần 40 bức tranh, khổ lớn.

Ngoài những triển lãm cá nhân, Họa sĩ Trần Nhương còn có Triển lãm cùng hoạ sĩ Đức Dụ, Văn Hải, Trọng Thanh năm 1999 với chủ đề “Đường Trường Sơn”. Triển lãm cùng hoạ sĩ Đức Dụ năm 2000 về ngành Hậu cần quân đội. Triển lãm cùng các nhà văn Đoàn Lê, Đỗ Minh Tuấn, Hoàng Minh Tường, Nguyễn Quang Thiều với tên gọi “Nhà văn vẽ” tại Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam và tại Hải Phòng năm 2005; Triển lãm cùng Nhà văn Nguyễn Khắc Phục tháng 7/2008 tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Xem tiếp
Họa sĩ Lê Thanh Minh
 
TNc: Họa sĩ Lê Thanh Minh đến xem tranh của tôi trước khi khai mạc triển lãm vào 28/4 này tại 16 Ngô Quyền, ông viết đôi lời nhận xét. Một họa sĩ có nghề nói về tranh của một người chơi "lấn sân" thật hay, ông có ưu ái tôi chăng nhưng thật xúc động về sự chân thành của ông. Xin giới thiệu cùng bạn đọc. 


Hơn 30 năm về trước tôi gặp Trần Nhương ở Matxcova. Anh là nhà thơ. Biết vậy. Cũng bình thường như bao người bạn thơ khác của tôi. Tôi không biết anh viết thơ vào lúc nào. Cho đến lúc này trong tay tôi có duy nhất một tập thơ anh tặng tôi gần 10 năm sau đó. Trần Nhương còn viết văn xuôi. Vì lý do gì đấy cho đến nay tôi chưa cầm trên tay một tập sách nào của anh. Hay hay dở tôi không có ý định bàn ở đây. Điều không bình thường ở Trần Nhương chính là ở tư cách họa sĩ.
Nhà văn vẽ tranh. Điều tưởng như mới mẻ này cũng không làm tôi ngạc nhiên. Nhiều người bạn viết văn khác của tôi cũng vẽ tranh, như Đỗ Chu, Vũ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chính, Nguyễn Quang Thiều... Cái làm tôi ngạc nhiên chính là những điều "zích zắc" nằm trong những bức tranh của anh. Cái hiện thực cuộc sống hiện hữu quanh ta được Trần Nhương "miêu tả" thật khác thường. Không phải cái ta nhìn thấy mà là cái trong tâm tưởng. Không phải cái ta đang nhìn hôm nay mà là cái đã từng hiện hữu trong quá khứ. Đây đó trong tranh của anh hiện ra một vài đường cong thẩm mỹ. Nó không hiện thực mà nó là cõi mơ. Giấc mơ của Trần Nhương. Nhìn tranh của anh ta không nghĩ anh từng là người lính. Tranh của anh lả lơi, bỡn cợt người xem. Nó khác với cái ta hình dung về người lính. Tôi không đi tìm lời giải cho sự bỡn cợt đó. Nhưng tôi biết. Nếu không trải qua chiến tranh, đau thương, mất mát ta sẽ không bao giờ biết trân quý những gì đang có. Ta không biết nâng niu những cái bình thường, nhỏ nhặt của cuộc sống. Trần Nhương đang nâng niu từng khoảnh khắc. Anh đang yêu. Ai mà chả có tình yêu. Đúng vậy. Nhưng tình yêu được thể hiện trong tranh của Trần Nhương rất khác. Nó mãnh liệt, hoang dại chứ không mượt mà thơ mộng. Mầu sắc trong tranh của anh đang sống đời sống của cõi riêng. Nó đang cựa mình như chồm ra khỏi tranh. Có người từng hỏi tôi: "Anh thấy tranh Trần Nhương thế nào?" Thế nào là thế nào. Tôi không hiểu ý định của người hỏi. Xem tranh của Trần Nhương nếu bạn cần tìm một khuôn hình, một đường nét, một mảng màu "bác học" thì bạn sẽ thất vọng. Bạn chẳng bao giờ tìm thấy nó trong tranh của Trần Nhương. Anh tìm đến sự hồn nhiên ngây thơ. Anh như đang trẻ lại so với tuổi của mình. Nhưng trên hết. Trần Nhương đang chơi trò chơi của mình. Anh không cần phô diễn kỹ thuật, không cần lên gân. Trong tranh của anh mọi cái hiện ra như nó vốn phải thế.

Xem tiếp
Hoàng Gia Cương
 
 
Văn Lang đất hẹp, nước nghèo
Vua cày
Hậu cấy
Quan gieo
Dân trồng ...
Cùng là hậu bối Thần Nông
Cũng là con Lạc cháu Hồng một nôi.
Chắp tay lạy bốn phương trời
Nhắc cho hậu thế nhớ nơi cội nguồn
Ơn sâu mảnh ruộng, góc vườn
Con trâu, cái cuốc, ao, chuôm lặng thầm.
Xem tiếp

Nguyễn Khắc XươngKết quả hình ảnh cho đền hùng
 
Câu đối Đền Hùng là cảm nghĩ của nhân dân gửi Đền Hùng mộ Tổ, tấm lòng nhân dân khi được về mảnh đất cội nguồn, được thành kính thắp những nén hương thơm dâng lên tổ tiên xưa: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước”.
Xét về văn tự, câu đối Đền Hùng có 3 loại, đó là các câu đối soạn bằng Hán tự, câu đối Nôm và câu đối chữ Quốc ngữ ra đời muộn hơn, vào hồi đầu thế kỷ.
Đề ở Đền Hùng phần nhiều là câu đôi Hán tự, còn đối Nôm và đối chữ Quốc ngữ là viết trên giấy lưu lại hay in trên báo chí hoặc cũng có khi là truyền khẩu mà nhớ.
Đến cổng đền Hùng, ngước nhìn lên thấy trang nghiêm như tỏa sáng hào quang 4 chữ “Cao sơn cảnh hành”. Đây là câu rút ra từ Kinh Thi: Cao sơn ngưỡng chỉ, cảnh hành hành chỉ, có nghĩa là: “Núi cao ta ngẩng trông, đường rộng lớn ta đi tới”. “Núi cao ta ngẩng trông” là hướng về cội nguồn như núi cao sừng sững bền vững muôn đời. Còn “đường lớn ta đi tới” là chỉ về tương lai rộng lớn của cả dân tộc. Khổng Tử khi biên tập các câu hát và thơ dân gian để làm thành bộ Kinh Thi có khen câu thơ trên: “Người làm thơ yêu thích cái đạo nhân hậu đến như thế”. Khen “nhân” là vì đã nghĩ đến cái gốc, khen “hậu” vì đã nghĩ đến những thế hệ mai sau.
Xem tiếp
Nhà thơ Phạm Thị Phương Thảo
 
Trong không khí ấm áp của những ngày lịch sử tháng tư cuối xuân đầu hè tại vùng biển xinh đẹp, thơ mộng của quê hương Thanh Hoá vùng đất giàu bản sắc văn hoá và truyền thống lịch sử lâu đời, tại TP Sầm Sơn, Thanh Hoá, ngày 17/4/2018 Ban công tác Nhà văn nữ- Hội Nhà văn Việt Nam do nhà thơ Nguyễn Thị Mai làm trưởng đoàn đã tiến hành khai mạc trai sáng tác và tổ chức hội thảo “ Nhà văn nữ đồng hành cùng đất nước” tại khu nghỉ của Hương Thanh ( thuộc sự quản lý của Sở Công an Thanh Hoá). Nhà thơ Hữu Thỉnh- Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã vào tham dự khai mac và chỉ đạo hội nghị sau khi lắng nghe nhiều ý kiến của các nhà văn nữ phát biểu và nghe những lời bầy tỏ, những tâm tư, nguyện vọng, sự quan tâm, những đề xuất của các nữ nhà văn với Hội NVVN đối
với nền văn học nuóc nhà.
Nhiều nhà văn tên tuổi như: Nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn, Đặng Nguyệt Anh, Nguyễn Thị Ngọc Hà, Tôn Phương Lan...cũng tham gia trại viết lần này. Các chị nhà văn Việt Nam tại Thanh Hoá như: Viên Lan Anh, Hà Cẩm Anh, Vũ Thị Khương cũng có mặt. Trẻ nhất trại viết lần này là nhà văn Kiều Bích Hậu. Cao tuổi nhất là nhà thơ Nguyễn Thị Kim.
 
Ảnh: Nhà thơ chủ tịch Hữu Thỉnh thăm trại viết 
Xem tiếp
 
Thái A
Kết quả hình ảnh cho Đền Hùng
TNc: Nhà giáo Thái A cho chúng ta một cách nhìn về Vua Hùng. Trang nhà đưa bài lên để cùng suy ngẫm và trao đổi.
 
Sắp đến ngày 10 tháng 3 Âm lịch, ngày Hội Đền Hùng (Giỗ Tổ).
Nhìn cảnh biển người chen lấn nhau lên đền Lễ Tổ mà kinh! Không biết lòng người dân sùng kính Quốc Tổ thật hay bởi tâm lý mê tín thần linh là sức mạnh có thể dựa dẫm, đã thôi thúc lòng tham danh lợi,nên đến để cầu xin các Vua Hùng phù trợ ? Thực tình, đời tôi chưa bao giờ thấy người dân mê tín thần linh, ngẫu tượng một cách cuồng nhiệt như bây giờ! Chùa chiền, đền đài miếu mạo..., một thời theo chủ nghĩa vô thần Mác-Lê đã phá bỏ hoặc để cho đổ nát, chẳng ai đoái hoài. Nay tự nhiên lại ồ ạt "thi đua"xây dựng ở mọi nơi...để rồi người dân lại lũ lượt kéo nhau đi hết chùa nọ đến đền kia, nối nhau xì xụp lễ bái, khấn khứa, cầu xin...lợi lộc(!) Thật cám cảnh cho trình độ dân trí nước nhà! Tôi cũng không thể hiểu nổi những người trách nhiệm làm văn hóa có ý đồ đặc biệt gì mà biến các thứ lễ hội dân gian thành một hình thái quái đản như vậy?Hay đây là cách biến Dân thành một bầy cừu để dễ sai bảo? Hội Đền Hùng cũng chung một kiểu xô bồ mê tín dị đoan như vậy!
Xem tiếp


Nguyễn Đức TùngKết quả hình ảnh cho nHÀ THƠ tRẦN dẠ tỪ

 

Tình yêu thám hiểm những bí mật của con người. Không ở đâu người ta có thể hạnh phúc hơn hay tuyệt vọng hơn, hèn yếu hơn hay cao cả hơn, như trong tình yêu.

Em ngồi đây, ngồi sát nữa, người thương

Kìa những ngày thơ rụng đỏ chân tường

Kìa sự sống như những chiều bãi biển

Thơ Trần Dạ Từ là tình yêu thời mới lớn, say đắm vụng về, và tình yêu của người đứng tuổi, trải qua hoạn nạn, tù đầy. Đó là tiếng thơ giàu vần điệu, không có nhiều khai phá về ngôn ngữ; tuy vậy khả năng đào sâu của tác giả vào các đề tài tưởng như đã rất cũ, từ đó mở ra những ngã rẽ cảm xúc làm người đọc bất ngờ. Trong thơ Trần Dạ Từ có một nỗi buồn rầu, phiền muộn, như khái niệm blue của người Mỹ, mặc dù thế, thơ ấy không tuyệt vọng, than thở, bi lụy. Ngôn ngữ bám rễ vào đời sống thành thị, dân nghèo, tầng lớp cơ cực. Sự dằn vặt, lối nghĩ ngợi, phân vân, là tiêu biểu cho những người trẻ tuổi trong một xã hội tự do và lo âu, chứa mầm loạn lạc từ bên trong hoặc bên ngoài. Thơ ông như lời độc thoại có kịch tính, lời nói không hướng tới người đọc mà hướng tới một nhân vật nào khác, có mặt trong bài thơ hoặc ngoài bài thơ, đứng đâu đó trước mặt chúng ta. Ngôn ngữ ấy tìm cách ghi lại ký ức, phản ánh đời sống cùng thời, đời sống trí thức không chịu thỏa hiệp.

Chuồng gà đã bỏ không từ lâu

Chả còn tiếng gì giục giã nữa

Trong các góc phòng và cánh cửa

Bóng tối đập đôi cánh vùng vằng

Thơ ca dạy ta cách vượt qua biên giới giữa bóng tối và ngày mới, giữa căm phẫn và thương xót, cách đi qua sự trống rỗng vô nghĩa của tồn tại, truy tìm những thực tại mới hay ý nghĩa của những thực tại ấy. Thơ Trần Dạ Từ, mặt khác, ca ngợi tình yêu, niềm vui vỡ òa lồng ngực của tuổi trẻ; có bài được phổ thành ca khúc nổi tiếng. Trong giai đoạn sớm, tính chất yêu đời và hồn nhiên của ông vẫn nổi bật hơn cả.

Xem tiếp

 Nhật Minh thực hiệnKết quả hình ảnh cho Phan Hồng Giang

 
(Báo Khoa học & đời sống, ngày 13-4-2018)
Phỏng vấn TS Phan Hồng Giang 


Trước sự việc cô giáo phạt học sinh bằng cách bắt uống nước giặt giẻ lau, chúng ta bức xúc vì cô giáo, nhưng việc em học sinh đó không có phản ứng gì, chấp nhận uống nước bẩn, cũng là điều đáng lo ngại. KH&ĐS có cuộc trao đổi với nhà văn, dịch giả Phan Hồng Giang, nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam về vấn đề này.

Lấy sự phục tùng để đánh giá con người

Là người có nhiều bài viết về giáo dục, đặc biệt là triết lý giáo dục, ông suy nghĩ gì trước sự việc cô giáo phạt học sinh bằng cách bắt uống nước giặt giẻ lau?

Nói thực là tôi thấy quá quen với những chuyện trên thế giới không đâu có như thế rồi. Nào là cô giáo bắt học sinh liếm ghế, nói những lời khiến trẻ con phải tự tử…nên cũng không quá ngạc nhiên. Nhưng ngẫm nghĩ kỹ thì thấy vẫn kinh khủng. Tuy chỉ là trường hợp cá biệt, nhưng lại cho thấy những yếu kém của giáo dục. Tại sao những người như thế vẫn đứng trong hàng ngũ người làm giáo dục.

Theo ông, tại sao cô giáo lại có cách hành xử phản giáo dục như vậy?

Khi tuyển vào ngành cả những người điểm thấp, nhiều khi chỉ vì không phải trả học phí mà chen nhau vào thì ngay từ đầu vào đã có vấn đề. Một đội ngũ đáng lẽ phải là những người mẫu mực, được tôn trọng.. lại có một số người thực sự không yêu học trò mà chỉ lo kiếm ăn nên mới sinh ra những lệch lạc về đạo đức như thế. Đó cũng là tâm lý chung của xã hội, nhiều stress quá, khắp nơi, từ chỗ làm việc, ra đường, ngoài chợ, trong nhà… khiến người lớn đổ tức giận lên đầu trẻ con. Công bằng mà nói, chính thầy cô cũng bị ảnh hưởng từ môi trường sống.

Xem tiếp

Kết quả hình ảnh cho Nhà thơ Nguyễn Thị Hồng

TNc: Hàng năm, cứ đến cuối tháng Ba âm lịch ( 27 tháng 3) lại diễn ra một sinh hoạt văn hóa độc đáo của người Mông ở vùng Mèo Vạc – phiên chợ tình Khau Vai. Nghe nói năm nay địa phương sẽ tổ chức thành một ngày Hội rầm rộ với nhiều hình thức vui chơi giải trí . Trannhuong.com xin giới thiệu trường ca HỒN KHÈN của nhà thơ Nguyễn Thị Hồng sáng tác dựa trên một truyện tình bi thiết được lưu truyền trong dân gian người Mông mà những nhân vật chính đã làm nên những phiên chợ tình Khau Vai nguyên sơ cách đây ngót trăm năm. Cũng xin giới thiệu bài bình của nhà văn Đoàn Hữu Nam về trường ca HỒN KHÈN này để bạn đọc cùng thưởng thức.

Nguyễn Thị Hồng

 

HỒN KHÈN

(Trường ca)

Quê ta ở tận cổng trời

Bản ta tay với chạm trời

Lời yêu không gửi được nhau

Lời yêu ta gửi lên trời

Chung chiêng rừng núi những lời thiết tha

I

Ngày ấy

Chiều chiều

Mặt trời sắp đi ngủ sau lưng núi

Giao bản làng lại cho mặt trăng

Ráng chiều

hằn

dáng ngựa

Một con ngựa bạch rung bờm

Anh đứng trên đèo

Nắm lấy dây cương...

Em

Hạt bắp trắng tròn

Cha mẹ như nương vừa mùa đốt rẫy

Nương nhiều màu gặp mưa xuân tươi tốt

Hạt bắp trắng tròn trổ cây bắp tốt tươi

Bản làng mình cheo leo lưng trời

Nhìn xuống

Bãi bằng mây trùng điệp

Em tắm nước lần trong khe

Em tắm ánh trăng lưng núi

Da em mịn như hoa đào

Má em hồng như trái đào...

Xem tiếp
Bạn đọc khắp nơi trên thế giới truy cập vào trannhuong.com
Profile Visitor Map - Click to view visits
Click vào đây để xem chi tiết (Hình ảnh 5 phút cập nhật lại 1 lần)