Trang chủ » Bầu bạn góp cổ phần

VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA DÂN TỘC

GS-TS Huỳnh Như Phương
Thứ hai ngày 4 tháng 1 năm 2016 9:28 PM

Nghiên cứu - Phê bình


Văn học, nghệ thuật cùng với triết học, chính trị, tôn giáo, đạo đức, phong tục… là những bộ phận hợp thành của chỉnh thể cấu trúc văn hóa. Nếu văn hóa thể hiện quan niệm và cách ứng xử của con người trước thế giới, thì văn học là hoạt động lưu giữ thành quả sáng tạo một cách sinh động nhất. Để có được những thành quả đó, văn hóa của một dân tộc cũng như của nhân loại từng trải qua nhiều chặng đường tìm kiếm, chọn lọc, bảo tồn và phát triển để hình thành những giá trị trong xã hội. Văn học vừa là chặng đường tìm kiếm, vừa là nơi định hình những giá trị. Cũng có thể nói văn học là văn hóa lên tiếng bằng ngôn từ nghệ thuật.

Văn học biểu hiện văn hóa, cho nên văn học là tấm gương của văn hóa. Trong tác phẩm văn học, ta tìm thấy hình ảnh của văn hóa qua sự tiếp nhận và tái hiện của nhà văn. Đó là bức tranh văn hóa dân gian trong thơ Hồ Xuân Hương (tục ngữ, câu đố tục giảng thanh, trò chơi…), là những vẻ đẹp của văn hóa truyền thống trong truyện ngắn và tuỳ bút Nguyễn Tuân (hoa thuỷ tiên, nghệ thuật pha trà, thư pháp…), là tín ngưỡng, phong tục trong tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh (đạo Mẫu và tín ngưỡng phồn thực, tục thờ Thần Chó đá, Thần Cây đa, Thần Thành hoàng, cách lên đồng, hát chầu văn, tục kết chạ, ma chay, cưới hỏi…). Tác phẩm văn học còn dẫn ta đi đến những nguồn mạch sâu xa của văn hóa qua việc lý giải tấn bi kịch lịch sử trong kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng hay cốt cách người nông dân được đào luyện qua những biến thiên cách mạng trong các truyện ngắn Khách ở quê ra và Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu.

Văn hóa ảnh hưởng đến văn học không chỉ ở đề tài mà còn ở toàn bộ bầu khí quyển tinh thần bao bọc hoạt động sáng tạo của nhà văn và hoạt động tiếp nhận của bạn đọc. Bản thân nhà văn trước thế giới nghệ thuật là một sản phẩm văn hóa. Người đọc, với chân trời chờ đợi hướng về tác phẩm, được rèn luyện về thị hiếu thẩm mỹ trong một môi trường văn hóa nhất định. Chính không gian văn hóa chi phối cách xử lý đề tài, thể hiện chủ đề, xây dựng nhân vật, sử dụng thủ pháp nghệ thuật… trong quá trình sáng tác; đồng thời chi phối cách phổ biến, đánh giá, thưởng thức… trong quá trình tiếp nhận. Một nền văn hóa cởi mở, bao dung mới tạo điều kiện thuận lợi cho văn học phát triển. Vì vậy, có thể nói văn học là thước đo, là “nhiệt kế” vừa lượng định, vừa kiểm nghiệm chất lượng và trình độ văn hóa cuả xã hội trong một thời điểm lịch sử nhất định.

Trong tinh thần đó, nhiều nhà nghiên cứu đã căn cứ vào những dữ liệu văn học để tìm hiểu bức tranh văn hóa của một thời đại. Thực tiễn văn học có thể cung cấp những cứ liệu đáng tin cậy cho khoa nghiên cứu văn hóa. Thông qua nội dung tái hiện của văn xuôi Việt Nam đầu thế kỷ 20, người ta có thể chứng minh cho quá trình thâm nhập của văn hóa Tây Âu trong xã hội thời kỳ này, cũng như khoảng cách văn hóa của người thị dân so với người sĩ phu bị buộc chặt vào những tín điều Nho giáo, một bên, và với người nông dân bị giới hạn trong văn hóa nông thôn ở làng xã, một bên khác.

Tuy nhiên, cách nghiên cứu có phần “thực dụng” này có nguy cơ làm cho nghiên cứu văn hóa nuốt chửng nghiên cứu văn học và thủ tiêu chính đối tượng toàn vẹn của văn học.

Nếu văn hóa chi phối hoạt động và sự phát triển của văn học, thì ngược lại, văn học cũng tác động đến văn hóa, hoặc trên toàn thể cấu trúc, hoặc thông qua những bộ phận hợp thành khác của nó. Những nhà văn tiên phong của dân tộc bao giờ cũng là những nhà văn hóa lớn. Bằng nghệ thuật ngôn từ, họ đấu tranh, phê phán những biểu hiện phản văn hóa, đồng thời khẳng định những giá trị văn hóa dân tộc, nhân bản và khai phóng. Dù là phản ứng trước những làn sóng văn hóa tiêu cực hay cổ vũ cho sự tiếp biến văn hóa, giới trí thức sáng tác tinh hoa bao giờ cũng là những người tiên phong mở ra hướng nhìn về vận hội mới của văn hóa dân tộc.

Giữa văn học và văn hóa có mối quan hệ hữu cơ mật thiết như vậy, nên việc tìm hiểu văn học dưới góc nhìn văn hóa là một hướng đi cần thiết và có triển vọng. Cách đây hơn hai thế kỷ, trong tác phẩm Về văn học, xét trong mối tương quan với những thiết chế xã hội, bà De Staël đã bày tỏ ý định nghiên cứu về ảnh hưởng của tôn giáo, phong tục và pháp luật đối với văn học và ngược lại. Cùng với những cách tiếp cận văn học từ góc độ xã hội học, mỹ học, thi pháp học…, cách tiếp cận văn học từ góc độ văn hoá học giúp chúng ta lý giải trọn vẹn hơn tác phẩm nghệ thuật với hệ thống mã văn hoá được bao hàm bên trong nó. Những yếu tố văn hoá liên quan đến thiên nhiên, địa lý, lịch sử, phong tục, tập quán, ngôn ngữ… có thể được vận dụng để cắt nghĩa những phương diện nội dung và hình thức của tác phẩm. Nó cũng có thể góp phần lý giải tâm lý sáng tác, thị hiếu độc giả và con đường phát triển của văn học nói chung.

M. Bakhtin, nhà nghiên cứu văn học và mỹ học kiệt xuất thế kỷ 20, đã xuất phát từ những đặc trưng của nền văn hóa dân gian thời Trung cổ và Phục hưng ở Tây Âu để cắt nghĩa thế giới tư tưởng và nghệ thuật trong sáng tác của F. Rabelais. Theo Bakhtin, dưới ánh sáng của văn hóa dân gian với những hình thức nghi lễ diễn trò, những tác phẩm trào lộng và giễu nhại, những hình thức và thể loại ngôn ngữ suồng sã, chợ búa ở quảng trường, ta có thể nắm bắt được cội nguồn và ý nghĩa của tính chất kỳ dị (grotesque) trong nghệ thuật tiểu thuyết Gargantua và Pantagruel. Ông viết: “Để thâm nhập được vào cốt lõi sâu xa của văn hóa trào tiếu dân gian, không tác gia nào thay thế được Rabelais. Trong thế giới nghệ thuật của ông, tính thống nhất nội tại của tất cả các thành tố khác nhau trong nền văn hoá ấy biểu lộ cực kỳ rõ nét. Mà tác phẩm của ông lại là một pho sách bách khoa toàn thư về văn hoá dân gian”. Đồng thời Bakhtin lưu ý: “Nhưng khi sử dụng tác phẩm của Rabelais để tìm hiểu bản chất nền văn hoá trào tiếu dân gian, chúng tôi hoàn toàn không biến nó chỉ thành một phương tiện để đạt một mục đích nằm ngoài nó. Ngược lại chúng tôi tin tưởng sâu sắc rằng chỉ bằng cách đó, tức là chỉ dưới ánh sáng của văn hoá dân gian mới có thể khám phá ra một Rabelais đích thực, mới có thể cho thấy Rabelais trong Rabelais”[1].

Cách tiếp cận văn hóa học như vậy thực chất là đặt văn học trong không gian văn hóa với những đặc trưng của nó đã thâm nhập một cách tinh vi vào thế giới sáng tạo nghệ thuật của nhà văn. Ở những người nghệ sĩ lớn, đó không phải là sự “ăn tươi nuốt sống” mà là sự tiêu hóa và thẩm thấu vào từng hình tượng, chi tiết của tấm thảm dệt ngôn từ. Sự thẩm thấu truyền theo hai chiều lịch đại và đồng đại. Một mặt, những giá trị từ nguồn văn hóa truyền thống rì rầm chảy trong mạch ngầm của nó và thấm vào thế giới hình tượng và ngôn từ của tác phẩm mà đôi khi chủ thể sáng tạo không ý thức một cách tự giác. Mặt khác, những giá trị văn hóa mới hình thành vào lúc đương thời không thôi cám dỗ, kêu gọi, thách thức, đòi hỏi nhà văn phải trả lời, trực tiếp hay gián tiếp, bằng ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm của mình. Đối với những tài năng bậc thầy, cả hai chiều thẩm thấu hòa trộn một cách nhuần nhuyễn đến mức khó mà tách bạch rõ ràng. Ở thế giới của Don Kihote mà Cervantès xây dựng, đó là sự hoà trộn của văn hoá truyền thống mang lý tưởng hiệp sĩ phong kiến với văn hoá tư sản thời kỳ đầu đầy tinh thần thực tiễn và lạc quan. Ở thế giới của Linh Sơn mà Cao Hành Kiện xây dựng, đó là sự đan xen, tranh chấp và giằng co giữa văn hóa truyền thống cổ kính Trung Hoa và “văn hóa vô sản” mang tính hủy diệt do Cách mạng văn hóa phát động.

Văn hóa không bao giờ là một hiện tượng thuần nhất. Sự đan xen văn hóa có khi dẫn đến sự pha tạp, nhưng cũng có thể dẫn đến sự kết tinh, chưng cất nên những giá trị mới. Về mặt thời gian, khi cái cũ chưa bàn giao cho cái mới, văn học có thể là nơi hội tụ của những tìm tòi cho sự chuẩn bị chuyển tiếp thời đại. Thơ Tản Đà trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ 20 thực sự là một hiện tượng đan xen giữa văn hóa truyền thống phương Đông và văn hoá hiện đại phương Tây ở bước đầu du nhập. Hoài Thanh từng viết về Tản Đà: “Tiên sinh đã dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kỳ đương sắp sửa” và “Tiên sinh đã đi qua giữa cái hỗn độn của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ 20 với tấm lòng bình thản của một người thời trước…”[2]. Còn về mặt không gian, khi một địa bàn trở thành ngã ba đường của sự giao lưu văn hóa, thì văn học có thể là nơi hòa giải những xung đột tinh thần, nhằm tìm một tiếng nói cho sự chung sống giữa các nhóm người. Gần đây, tiểu thuyết Tên tôi là Đỏ của Orhan Pamuk, giải thưởng Nobel văn học 2007, là một hiện tượng điển hình của sự giao thoa văn hoá Đông Tây trong thế giới hiện đại.

Ở xa, văn học thừa hưởng và hấp thụ những yếu tố của một không gian văn hóa rộng: văn hóa phương Đông, văn hóa dân tộc. Ở gần, văn học thừa hưởng và hấp thụ những yếu tố của một không gian văn hóa hẹp: văn hóa tộc người, văn hóa vùng. Những vùng văn hóa giao nhau sẽ tạo ra những nét chung trong văn học của từng vùng, đồng thời vẫn giữ lại những nét riêng làm căn cước giúp ta nhận diện bộ mặt của từng vùng văn hóa, từ đó phân biệt “lãnh thổ” trên bản đồ văn học. Công trình khảo cứu Hồ sơ về Lục châu học của Nguyễn Văn Trung là một nỗ lực đáng trân trọng nhằm khảo sát, phân tích và đi đến khái quát về đặc điểm và sự phát triển của văn học Nam bộ trong bối cảnh văn hóa-lịch sử nước ta cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20. Thiên nhiên, địa lý, phong tục, tập quán, lề thói sinh hoạt ở vùng đất mới là cái nôi văn hóa hình thành nên tính cách con người và tính cách văn chương ở đây, thể hiện qua tâm lý, hành động và ngôn ngữ.

Trong một phối cảnh văn hoá như vậy, chúng ta sẽ thấy sự nối tiếp và gần gũi giữa Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Đoàn Giỏi… ở nửa cuối thế kỷ 20 với Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Bửu Mộc, Nguyễn Chánh Sắt… ở nửa đầu thế kỷ đó. Và mặc dù không thiếu những nét chung với những nhà văn cùng cộng đồng vận mệnh trong thế kỷ đầy biến động này, ngay trong đề tài về cuộc sống ở nông thôn, sáng tác của họ cũng có một khoảng cách nhất định với sáng tác của Bùi Hiển, Võ Hồng, Nguyễn Văn Xuân… ở miền Trung và Trần Tiêu, Nguyễn Đình Lạp, Mạnh Phú Tư… ở miền Bắc.

Nằm trong cấu trúc văn hóa, đạo đức là những quy luật tinh thần hướng con người vươn đến điều Thiện, bao gồm những nguyên tắc ứng xử, những chuẩn mực và quy phạm trong đời sống xã hội. Nói đến quan hệ giữa văn học và đạo đức chính là nói đến quan hệ giữa cái đẹp và cái Thiện. Mỹ học truyền thống phương Đông cũng như phương Tây luôn nhấn mạnh sự thống nhất của hai phạm trù này và khẳng định văn học góp phần củng cố bầu không khí đạo đức của xã hội, trong đó tình người, lương tâm, bổn phận, sự trung thực, lòng nhân ái, lẽ công bằng… được đề cao. Ngược lại, khi xã hội vững chãi về phong hóa, đạo đức, thì văn học sẽ tiếp nhận nguồn động lực để nói lên sự thật về cuộc đời và về lòng người.

I. Kant quan niệm ý thức đạo đức là quy luật của bổn phận. Có bổn phận được thôi thúc do sức mạnh và áp lực của dư luận từ bên ngoài và có bổn phận được thôi thúc do ý thức của chính lương tâm từ bên trong. Từ đó, Kant phân biệt hai loại hành động là hành động thích nghi theo bổn phận và hành động vì bổn phận. Ông kêu gọi: “Hãy hành động sao cho nhân tính trong bản thân mình cũng như nơi người khác luôn luôn được xem là cứu cánh và không bao giờ bị sử dụng như là phương tiện”[3].

Văn học gắn liền với ý thức đạo đức theo nghĩa thứ hai. Đó là tiếng nói của bổn phận và lương tâm ngay cả khi không có áp lực của xã hội và dư luận. Văn học khơi dậy sự ăn năn, cắn rứt của lương tâm con người về những tội lỗi mà có thể không một tòa án nào xử phạt được. Đó là sự sám hối, xưng tội của con người với chính bản thân mình: con người tự kết án, tự biện hộ, tự phán quyết và tự hòa giải với lương tâm mình. Có thể nói, ở nơi mà luật pháp, dư luận xã hội không can thiệp được, thì văn học có khả năng khơi dậy và thức tỉnh lương tri của con người.

Đạo đức là một thực thể luôn vận động và thay đổi theo sự tiến hoá của xã hội chứ không mang một khuôn khổ bất di bất dịch. Nói đúng hơn, trong đạo đức có phần căn cốt, bất biến; lại có phần biến đổi, thích nghi theo từng thời đại. Chẳng hạn, ở thời đại nào con người chân chính cũng coi trọng nghĩa vụ và danh dự; nhưng quan niệm về nghĩa vụ và danh dự thời nay không thể giống với quan niệm thời Racine, Corneille… Cũng vậy, ở thời đại nào tình mẫu tử cũng thiêng liêng, sâu nặng; nhưng mỗi thời lại có cách đối xử với người phụ nữ khác nhau, và do vậy nhìn nhận vấn đề nữ quyền một cách khác nhau. Văn học tiên phong đấu tranh cho nữ quyền chính là góp phần làm chuyển biến đạo đức theo hướng tiến bộ. Công lao đó thuộc về Simone de Beauvoir, Hélène Cixous, Marguerite Duras, M. Yourcénar… ở Pháp; Hồ Xuân Hương, Nguyễn Thị Kiêm (Nguyễn Thị Manh Manh), Huỳnh Thị Bảo Hoà, Phan Thị Bạch Vân… ở Việt Nam.

Trong xã hội, tình trạng đạo đức suy đồi có thể dẫn đến một loại văn học suy đồi nào đó; nhưng văn học chân chính luôn có ý thức phản kháng lại sự suy đồi. Vì vậy, văn học là lương tri của xã hội ngay cả trong tình huống bất lợi nhất. Văn học kiên trì bảo vệ những giá trị đạo đức vĩnh cửu hay đấu tranh với những lề thói đạo đức cổ hủ không phải bằng những lời rao giảng thống thiết mà bằng sự trải nghiệm của nhà văn và nhân vật của mình. Tiếp xúc với sự trải nghiệm đó, bạn đọc sẽ tự rút ra cho mình những bài học về cách ứng xử đạo đức mà họ tin là phù hợp với phẩm giá con người. Nhà văn cần tin rằng con người tự mang phẩm hạnh bên trong mình. Văn học không dạy dỗ, mà là nâng đỡ, “hộ sản” (maïeutique), như phương pháp của Socrate, cho những phẩm hạnh đó có điều kiện thuận lợi để xuất hiện.

Có liên quan đến cả văn học và đạo đức, giáo dục là hoạt động nền tảng của văn hóa, đáp ứng nhu cầu cung cấp nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và nâng cao dân trí, hướng đến mục tiêu đào tạo những con người có nhân cách và năng lực nghề nghiệp. Một nền giáo dục toàn diện bao gồm giáo dục tri thức, giáo dục đạo đức, giáo dục thể chất và giáo dục thẩm mỹ. Văn học có vai trò quan trọng trong giáo dục đạo đức và giáo dục thẩm mỹ, là con đường đưa con người vươn đến điều Thiện và cái đẹp; đồng thời cũng góp phần vào hai lĩnh vực giáo dục kia, khi nó giúp con người nhận chân sự thật và vững vàng về mặt tâm lý.

Từ xưa đến nay, từ Đông sang Tây, không có một nền giáo dục chân chính nào xem nhẹ văn học. Văn học giữ một vị trí then chốt trong hệ thống các môn khoa học nhân văn ở nhà trường tiểu học, trung học và đại học. Trên những chặng đường đời người ta có thể quên đi những định lý toán học, định luật vật lý hay công thức hoá học; nhưng người ta sẽ nhớ mãi những bài văn hay được học từ thời thơ ấu: nhớ ông đại tướng Carnot về trường cũ thăm thầy giáo, nhớ cậu bé đeo cặp sách ngang qua vườn Luxembourg một sáng mùa thu, nhớ người lãng du khắp năm châu bốn biển nhưng vẫn thấy quê hương mình đẹp nhất… Văn học trong nhà trường là sợi dây kết nối những tâm hồn như đã được thể hiện chân thành trong truyện ngắn Tình nghĩa giáo khoa thư của Sơn Nam.

Một xã hội khủng hoảng về lý tưởng sẽ dẫn đến khủng hoảng về giáo dục, mà một nền giáo dục khủng hoảng thường biểu hiện rõ nhất ở việc khủng hoảng dạy và học môn văn. Vì vậy, những nhà giáo dục có trách nhiệm luôn quan tâm đến việc cải tiến nội dung, chương trình, sách giáo khoa văn học và cả phương pháp dạy văn. Dạy văn ở đại học là dạy nghề, là truyền đạt một khoa học, cần sự phân tích nghiêm nhặt và lý giải hệ thống; còn dạy văn ở nhà trường phổ thông là dạy người, là truyền đạt tình yêu cái đẹp, là giáo dục tình cảm. DạyVăn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ở trung học không phải là làm một bài thuyết giảng vô hồn về những điển cố, mà phải làm cho học sinh cảm được thần thái của một bài văn đọc giữa khói hương để hiệp thông với linh hồn những người đã hy sinh vì nghĩa cả. Đó là một nghệ thuật.

Môn văn học cần được đầu tư nhiều hơn nữa trong hệ thống giáo dục quốc dân: tập hợp những tác giả viết sách giáo khoa có tài năng và tâm huyết, tuyển chọn những áng văn ưu tú để trao truyền cho thế hệ trẻ, đào tạo những thầy cô giáo có năng lực và yêu nghề. Chỉ có như vậy thì tình yêu dành cho văn học, và qua đó tình yêu cái đẹp mới được nuôi dưỡng và không ngừng nâng cao.

Văn học là một kho tàng bao la, ngày mỗi ngày sinh sôi nẩy nở. Văn học trong nhà trường là phần tinh hoa được tuyển chọn, gồm những giá trị đã qua thời gian thử thách, phù hợp với thiên chức của giáo dục. Đó là vốn liếng căn bản để con người làm hành trang tiếp tục khám phá, cảm nhận, chinh phục kiến thức và vẻ đẹp của văn học ở ngoài nhà trường. Giáo dục cần chuẩn bị cho tuổi trẻ một tâm thế nhạy bén, tự tin và tự chủ khi tiếp xúc với những sản phẩm của thị trường văn học phức tạp ở bên ngoài, nhiều khi vàng thau lẫn lộn, để nhận ra đâu là giá trị đích thực.

Sức hấp dẫn của một bộ sách giáo khoa văn học bậc phổ thông trước hết là ở những tác phẩm được chọn lựa để giảng dạy, sau đó mới là ở phần phân tích, bình giảng những tác phẩm đó. Cấu tạo chương trình với những tác phẩm kém chất lượng thì dù soạn giả có là chuyên gia bậc thầy, việc thu hút học sinh yêu thích môn văn cũng là vô phương. Cho nên thiết kế được một chương trình đào tạo môn văn hợp lý, có tính sư phạm là đã bảo đảm thành công một nửa cho việc biên soạn sách giáo khoa, đặt tiền đề quan trọng cho cải tiến việc giảng dạy môn học này. Rất tiếc, thời gian qua, người ta tập trung công sức và tiền của vào việc tổ chức biên soạn sách giáo khoa văn học mà không đầu tư thích đáng cho việc thiết kế một chương trình phù hợp và nhất quán.

Theo thiển ý, trong chương trình đó, chiếm tỉ lệ áp đảo phải là những tác phẩm có giá trị bền vững, lâu dài, trong đó văn học cổ điển giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Chương trình, cách dạy học, cách ra đề thi hiện nay, tuy không quên lãng văn học cổ điển, nhưng vẫn ưu tiên cho văn học hiện đại, với không ít tác phẩm chưa kinh qua thử thách của thời gian, vô hình trung góp phần làm xóa nhoà ý thức về văn hoá truyền thống nơi học sinh. Chúng tôi cũng không tán thành việc đưa các bài văn “nhật dụng” vào chương trình ngữ văn, như ta thấy trong sách giáo khoa được biên soạn gần đây. Đành rằng đọc những bài văn như vậy cũng là cần thiết, nhưng trong khi chương trình luôn bị thầy và trò phản ánh là quá tải, thì người làm chương trình phải cân nhắc để chọn lựa giữa văn học và cận văn học, giữa văn học tinh hoa và văn học thực dụng. Đưa vào chương trình một bài báo chưa ráo mực của một quan chức nào đó, điều đó cho thấy tính chất xu thời của của người soạn sách, sẽ dẫn đến hậu quả tai hại là cắt đứt sợi dây truyền thông giữa các thế hệ cùng sử dụng bộ sách giáo khoa.

Đặc điểm và chất lượng của nền giáo dục có thể được phản ánh qua đặc điểm và tài năng của những nhà văn thụ hưởng nền giáo dục ấy. Một nền giáo dục nhân bản góp phần đào tạo ra những nhà văn, nhà thơ có thực tài, vừa nặng lòng với văn hóa dân tộc, vừa am hiểu văn minh nhân loại. Trái lại, một nền giáo dục què quặt, phiến diện tất không thể sản sinh ra những nhà văn ưu tú. Giáo dục cũng phát triển thuận chiều với văn học khi nó góp phần hình thành một công chúng có thị hiếu thẩm mỹ cao, không lóa mắt choáng ngợp trước những sản phẩm văn học tầm thường, hào nhoáng. Công chúng đó có khả năng tiếp nhận những tác phẩm văn học giàu hàm lượng trí tuệ và nghệ thuật, sẵn sàng ủng hộ, biểu dương hay ít ra, biết chờ đợi và lắng nghe những tìm tòi thể nghiệm trong văn học.

Văn học và giáo dục, như vậy, cùng đồng hành trong việc xây dựng một nền văn hoá đậm đà tinh thần dân tộc và sâu sắc ý nghĩa nhân văn. Sự quan tâm đến lĩnh vực này sẽ làm lợi cho lĩnh vực kia và có tác dụng tích cực đến nhiệm vụ xây dựng văn hoá và con người.

Cùng chia sẻ những giá trị đạo đức chung, nhưng mỗi dân tộc, mỗi tộc người, thậm chí mỗi vùng đất có thể có những phong tục, tập quán riêng. Tôn trọng bản sắc văn hoá cũng là tôn trọng những phong tục, tập quán đó và không lấy phong tục nơi này làm chuẩn mực đánh giá phong tục nơi khác.

Ở Việt Nam đã hình thành cả một dòng văn xuôi phong tục với những nhà văn am hiểu sâu sắc đời sống nông thôn: Ngô Tất Tố với Việc làng và Lều chõng, Trần Tiêu với Con trâu và Chồng con, Mạnh Phú Tư với Làm lẽ và Sống nhờ, Bùi Hiển với Nằm vạ, Nguyễn Đình Lạp với Ngoại ô, Tô Hoài với Quê người… Tất nhiên, tác phẩm có sức ám ảnh là nhờ trên cái nền của sự miêu tả phong tục, nhà văn tái hiện những tình huống bi kịch của kiếp người. Viết về phong tục, các nhà văn không chỉ làm công việc miêu tả đơn thuần, mà còn bày tỏ một thái độ trước những phong tục tập quán đã lỗi thời, không còn phù hợp với thời đại mới vì ngăn trở con người đi tìm tự do và hạnh phúc.

Thực tiễn tiếp nhận văn học cho thấy giữa phong tục và văn học từng diễn ra những bất hoà, xung đột. Chẳng hạn, những tác phẩm có yếu tố tính dục thường là nguyên cớ của mối bất hoà này. Ngay từ những năm 30 thế kỷ trước, chính quyền thực dân Pháp đã ra lệnh tịch thu và tiêu hủy Hà hương phong nguyệt truyện của Lê Hoằng Mưu với lý do “vi phạm thuần phong mỹ tục”. Vào đầu những năm 70 chính quyền Sài Gòn cũng từng gây khó khăn cho việc xuất bản Ngàn cánh hạc của Y. Kawabata với lý do tương tự. Gần đây hơn, việc dịch và ấn hành Chiếc chìa khóa của J. Tanizaki, Tình yêu thời thổ tả của G. Marquez, Tình ơi là tình của E. Jelinek đã gây ra những cơn “sốc” văn hóa trong dư luận. Bản dịch tiếng Việt tiểu thuyết Một nỗi đau riêng của Oe Kenzaburo không ra mắt bạn đọc với nội dung trọn vẹn mà phải cắt mất một chương, là một thí dụ khác.

Trong cấu trúc văn hoá, phong tục là yếu tố thường xuyên biến đổi. Phong tục quy định ứng xử của con người nhưng chính con người lại làm ra phong tục. Thời gian sẽ thử thách và bảo tồn những phong tục tốt đẹp như những giá trị văn hoá, đồng thời điều chỉnh, sửa sang những phong tục tỏ ra chỉ thích hợp với một không gian văn hóa và thời gian lịch sử nhất định. Trong lĩnh vực này, công chúng nhìn vào thái độ của văn học để tham khảo cho một cách ứng xử phù hợp.

Như vậy, văn học luôn có mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực khác nhau của văn hóa. Khi nói văn hoá ảnh hưởng đến văn học và văn học tác động đến văn hóa, ta hiểu ảnh hưởng và tác động đó vừa trên bình diện tổng thể của nền văn hoá, vừa trên bình diện của từng lãnh vực có quan hệ với văn học. Đó là ảnh hưởng và tác động đơn phương, song phương hay đa phương, tùy từng nơi từng lúc, nhưng không bao giờ ngưng nghỉ. Có thể nói nhà văn đích thực là một nhà hoạt động văn hóa, tác phẩm văn học là một sản phẩm văn hóa và người đọc là một người thụ hưởng văn hóa. Trong thời đại ngày nay, đa số quốc gia đều là xã hội đa văn hóa, văn học vì vậy cũng đa dạng như văn hóa. Chính sách đối với văn học là một phần của chính sách văn hoá mà tiêu điểm là con người với những nhu cầu tinh thần ngày càng phát triển, và nói theo Jacques Rigaud, nó hướng đến việc tìm kiếm “một ngôn ngữ chung giữ cho chúng ta không quay trở lại thời kỳ man rợ”.

H.N.P


[1] M. Bakhtin: Sáng tác của François Rabelais và nền văn hoá dân gian Trung cổ và Phục hưng (Từ Thị Loan dịch), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006, tr. 104.

[2] Hoài Thanh – Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam, NXB Hoa Tiên, Sài Gòn, tái bản 1968, tr. 6.

[3] I. Kant: Fondements de la métaphysique des moeurs, Delagrave, Paris, 1971, tr. 150.

Nguồn: Nico-paris