Trang chủ » Bầu bạn góp cổ phần

TRÊN CON ĐƯỜNG KHỔ ẢI "PHỤC NGUYÊN" TRUYỆN KIỀU

Mai An Nguyễn Anh Tuấn
Thứ ba ngày 18 tháng 8 năm 2015 5:34 AM



Trong suốt thời gian dài- kể cả khi đứng trên bục trường phổ thông giảng dạy về Truyện Kiều, với những câu chữ Truyện Kiều in có trên tay, trong thâm tâm tôi vẫn nghĩ rằng: đó là văn bản chính thức được công nhận, nên đáng tin cậy. Nhưng với thời gian, đặc biệt là sau khi được tiếp xúc với các nhà Kiều học vốn là những vị túc Nho rành Nôm, càng ngày tôi càng cảm thấy cái nhu cầu cấp bách của không ít người đọc- trong đó có bản thân tôi: đã tới lúc cần phải có một bản Truyện Kiều gần với nguyên tác của đại thi hào Nguyễn Du hơn cả! Trong giai đoạn quay tư liệu để làm bộ phim "Truyện Kiều Xưa và Nay", là kẻ vốn chỉ có trong tay độ hơn chục bản in Truyện Kiều đời mới bằng chữ quốc ngữ, tôi không ít lần phải ngẩn ngơ kính nể trước những bản Kiều Nôm cũ kỹ ố vàng được gìn giữ trong tư gia không chỉ những nhà Kiều học có tên tuổi, mà còn của nhiều người dân bình thường có ít nhiều chữ nghĩa đã coi đó là "gia bảo" của mình! Tôi ngộ ra điều này: hơn hai thế kỷ qua, Truyện Kiều đã được xuất bản hàng trăm lần bằng chữ Nôm, chữ Quốc ngữ và dịch ra nhiều thứ tiếng khác trên thế giới; song do không sưu tầm được nguyên tác của đại thi hào, nên mỗi soạn giả lại cho ra đời một văn bản Truyện Kiều có sai khác về số câu và khác biệt khá nhiều về từ ngữ. Các bản Truyện Kiều quốc ngữ hiện đang được lưu hành thông dụng nhất hiện nay và được tái bản nhiều lần là những bản do các tác giả Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Hoàn, Nguyễn Thạch Giang... phiên âm, biên soạn. Song các tác giả trên đều mới chỉ dựa vào một vài bản Kiều Nôm mà mình may mắn mắn sưu tập được, nên cái mơ ước cần phải xây dựng văn bản "Kiều tầm nguyên" của học giả Hoàng Xuân Hãn năm nào dường vẫn còn là một cái đích xa vời! Và giữa khi việc tìm nguyên tác Truyện Kiều dường trở thành điều “không tưởng”, thì các nhà nghiên cứu, những người yêu Truyện Kiều vẫn tiếp tục cố gắng với những nỗ lực đáng trọng để mong muốn đưa ra một bản Truyện Kiều có thể đạt được sự đồng thuận cao nhất!

Vì thế, suốt hai năm qua, khi tận mắt được chứng kiến ( và ghi hình) gần chục buổi cặm cụi làm việc của các nhà Kiều học "ăn cơm nhà vác ngà voi", thực hiện một trong những nhiệm vụ trọng yếu của Hội Kiều học Việt Nam là "phục nguyên văn bản Truyện Kiều", tinh tuyển từ hơn chục bản Kiều Nôm thành một văn bản Truyện Kiều chính thức, trong khi không có bất cứ một sự tài trợ nào từ phía Nhà nước, còn tư nhân giúp đỡ thì chỉ là sự "thơm thảo", tôi đã vô cùng thán phục, và hồi hộp chờ đợi. Công trình này do một nhóm các nhà nghiên cứu thuộc Hội Kiều học Việt Nam tổ chức hiệu khảo biên soạn, chỉnh lý, chú giải, gồm: PGS Nguyễn Văn Hoàn (nguyên chủ tịch Hội Kiều học), PGS-TS Nguyễn Hữu Sơn (phó Viện trưởng Viện Văn học), GS Trần Đình Sử ( chuyên gia nghiên cứu về thi pháp Truyện Kiều), nhà Hán Nôm Nguyễn Thế Anh, ông Nguyễn Khắc Bảo (người có nhiều bản Truyện Kiều cổ nhất hiện nay), nhà giáo Hoàng Xuân Khóa, (giảng viên Đại học Hải Phòng, đồng thời là cháu ruột cụ Hoàng Xuân Hãn, một nhà nghiên cứu về Truyện Kiều nổi tiếng), nhà giáo, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Khôi (tác giả tiểu thuyết "Nguyễn Du-Trên đường gió bụi"), và nhà thơ Vương Trọng (tác giả bài thơ nhiều người biết “Bên mộ cụ Nguyễn Du”, đã có nhiều năm nghiên cứu về Nguyễn Du và Truyện Kiều). Các thành viên Ban văn bản vốn ở phân tán (Hải Phòng, Bắc Ninh, Hà Nội...), phần lớn cao tuổi (70 đến 90 tuổi), không có địa điểm làm việc cố định, lại bị câu thúc về thời gian. Theo ông Nguyễn Khắc Bảo, phó chủ tịch Hội Kiều học Việt Nam, đã nổi danh nhiều năm nay là "người đòi lại chữ cho đại thi hào Nguyễn Du", hiện nay đương tồn tại hàng trăm bản Truyện Kiều lưu hành khắp Việt Nam và trên thế giới, và riêng ông đã sưu tập hàng chục bản Kiều Nôm! Trong số những bản Truyện Kiều này, các nhà nghiên cứu đã so sánh và tìm được hàng nghìn từ khác nhau từng tốn bao giấy mực tranh luận. Và
đến nay trong bộ sưu tập của các hội viên Hội Kiều học gồm trên 500 người ở toàn quốc đã có được 60 bản Kiều Nôm và trên 80 bản Kiều quốc ngữ, ngoại ngữ. Trong đó, có các bản hiện nay vào hàng cổ nhất như: Liễu Văn Đường 1866, 1871, Duy Minh Thị 1872, Thịnh Mỹ Đường, Quan Văn Đường, Thuận Thành 1879 hay những bản độc hữu như Tụ hiền đường 1886, Ấn Thư hội 1896, Quan Văn Đường 1911... hoặc bản Kinh Bắc, Tiêu Tương, Quế Võ ở quê ngoại, bản Diễn Châu ở quê nội, bản Thái Bình ở quê vợ Nguyễn Du, ngoài ra còn tham khảo các bản Nguyễn Hữu Lập 1870, Tăng Hữu Ứng 1874, Trương Vĩnh Ký 1875, Abel Michels 1884, Edmond Nordemanm 1897, Kiều Oánh Mậu 1902, Chu Mạnh Trinh 1906, VNb60 ở Thư viện quốc gia... Ban văn bản Truyện Kiều của Hội Kiều học đã đã dựa vào chữ Nôm ở các bản Kiều cổ, cách đọc theo các Tự điển và dựa vào văn cảnh của câu thơ mà chọn âm quốc ngữ phù hợp, có sai khác khá nhiều với văn bản của nhóm học giả, nhà thơ, nhà nghiên cứu do Đào Duy Anh chủ trì, thể hiện sự cố gắng của Hội Kiều học trong quá trình phục nguyên văn bản Truyện Kiều. Văn bản này có thể chưa hẳn là nguyên tác của đại thi hào, nhưng với 488 chữ thay đổi so với bản Đào Duy Anh in năm 1979, người đọc có cơ sở để hy vọng tìm thấy sự đồng thuận mới của toàn xã hội. Còn theo ông Vũ Ngọc Khôi, thường trực Hội Kiều học Việt Nam, thư ký tổ biên soạn cuốn sách cho biết, để làm được cuốn sách này, các nhà nghiên cứu đã lựa chọn khoảng 13 bản Truyện Kiều cổ, trong đó có 8 bản chính thức bằng chữ Nôm, rồi căn cứ vào những chữ Nôm trong đó tìm xem bản nào lặp lại từ ấy nhiều nhất, có lý nhất thì sử dụng. Ông Khôi khẳng định, trong quá trình biên soạn, các nhà nghiên cứu chỉ khảo lại những từ và thống nhất cách gọi, cách dùng cho hợp lý chứ tuyệt đối không bịa thêm từ mới. Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng căn cứ vào phẩm chất của ngôn từ, bởi Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du là thơ, nên các nhà nghiên cứu tìm trong số các từ khác nhau, từ nào có “chất thơ” hơn thì dùng. Ví dụ: trong nhiều bản Kiều Nôm, có viết: Sống làm vợ khắp người ta/ Hại thay tác xuống làm ma không chồng, nhưng trong bản Nôm của Liễu Văn Đường năm 1871 thì lại viết là: Sống thời tình chẳng riêng ai/ Hại thay thác xuống ra người tình không. Hoặc có bản viết: Thân lươn bao quản lấm đầu/ Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa nhưng cũng có bản lại viết: Thân lươn bao quản lấm đầu/ Xót lòng trinh bạch từ lâu đến giờ… Hay là, "như 2 câu thơ 696-697, hầu hết cả bản xưa nay đều là: Một mình nàng ngọn đèn khuya,/ Áo đầm giọt lệ tóc se mái sầu thì về mặt ngữ nghĩa hoàn toàn ổn, không có gì đáng suy nghĩ. Thế nhưng xem xét lại, thì chữ thứ ba của câu lục chữ Nôm có thể phiên âm thành nhiều cách: nàng, nườngnương. Chữ “nương” ở đây mang hai nghĩa, một chỉ cô gái, một chỉ sự nương tựa. Thế thì khi để ý đến ngôn ngữ thơ, ta sẽ phiên âm thành “nương”: Một mình nương ngọn đèn khuya, câu thơ hay hẳn lên, và tin chắc Nguyễn Du có ý viết như thế!" (Lời nói đầu). Ai cũng biết rằng: trong khi chúng ta chưa thể tìm ra được bản Truyện Kiều gốc của đại thi hào Nguyễn Du, thì việc xây dựng một bản Truyện Kiều có được sự đồng thuận cao thực không dễ dàng chút nào! Khi bản thảo sắp xong, may mắn có được sự tài trợ xuất bản của tỉnh Hà Tĩnh. Và ngày 08 tháng 8 năm 2015 tại Hội thảo Quốc tế Kỷ niệm 250 năm sinh đại thi hào Nguyễn Du, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã tặng mỗi đại biểu tham dự Hội thảo một cuốn Truyện Kiều của Hội Kiều học Việt Nam, do NXB Trẻ ấn hành quý III năm 2015. Trong lời nói đầu, Ban văn bản đã có lời mong mỏi: "Bản Truyện Kiều này không thể tránh khỏi những sai sót, rất mong sự đóng góp ý kiến của bạn đọc gần xa để chúng tôi có thể chỉnh sửa trong những lần tái bản sau".

Tôi xin dẫn ra đây những nguyên tắc chính đã được Ban Văn bản thống nhất trong khi cùng nhau hiệu khảo Truyện Kiều, và trên thực tế, Ban Văn bản đã thực hiện được nghiêm túc những nguyên tắc đó: "1. Hiệu khảo chứ không phải biên tập, do đó không chấp nhận việc đưa vào Truyện Kiều những chữ, những từ mới chưa từng có trong các văn bản Nôm đáng tin cậy trước đây... 2. Về cơ bản, việc hiệu khảo phải căn cứ vào các bản Nôm khắc in ngay trong thế kỷ XIX, cụ thể là các bản Liễu Văn Đường, Thịnh Mỹ Đường, Quan Văn Đường, Duy Minh Thị… Còn các bản Kiều Nôm và Quốc ngữ xuất bản ở thế kỷ XX, kể cả bản Kiều Oánh Mậu, chỉ nên được dùng để tham khảo, khi khó tìm được câu chữ hợp lý trong các bản Truyện Kiều Nôm đã kể trên. 3. Phải chú ý ngữ nghĩa trong văn cảnh. Chúng ta biết rằng, mỗi một chữ Nôm viết ra có nhiều cách phiên âm khác nhau, và có khi mang ý nghĩa khác nhau, nên muốn chọn cách phiên âm nào cho hợp lý thì phải chú ý chữ trong câu và trong cả đoạn văn. 4. Luôn nghĩ đến chất thơ trong câu để chọn từ, chọn cách phiên âm. Nếu chỉ xem mặt chữ Nôm rồi phiên âm theo thói quen mà không lưu ý đến chất thơ trong câu, nhiều khi chúng ta đã làm cho câu thơ không đúng như ý Nguyễn Du muốn viết... 5. Tránh việc làm lạ hóa Truyện Kiều... Ví như câu thơ số 2297: Nghiêm quân chọn tướng sẵn sàng Chữ (…) xưa nay được phiên âm là “nghiêm”, nhưng có người lý luận rằng, chữ đó có thể phiên âm thành chữ “nghiềm” (có dấu huyền), một từ cổ, trong nhiều sách cổ vẫn dùng theo nghĩa như chữ “rèn”. Ban Văn bản nhận thấy sự khác biệt không lớn, nên không thay đổi, mà vẫn phiên âm là “nghiêm” như các bản Truyện Kiều quen thuộc." ( Lời nói đầu Truyện Kiều- Nxb Trẻ, 2015)

Cung cách làm việc khoa học và nghiêm túc như thế đã là cơ sở cho người đọc hoàn toàn tin tưởng ở chất lượng của cuốn sách- cũng như cái đích mong đợi của nhiều thế hệ người yêu Truyện Kiều!

Tuy nhiên, sau khi sách được phát hành, đã có người phát hiện ra vài sai sót nhỏ. Ngoài lỗi chính tả, lỗi thừa chữ, còn có cả đôi chỗ biểu hiện sự thiếu đồng thuận trong nhóm Văn bản. Điều đó chứng tỏ, để có được sự đồng thuận tuyệt đối trong chuyện này thực khó khăn chừng nào! Nhưng xem ra, đó là những lỗi khó tránh khỏi ngay đối với cả những cuốn từ điển nước ngoài! (Xin tham khảo: http://giaobao.com/giai-tri/phat-hien-sai-sot-cua-tu-dien-oxford_tin37731.html).

Đó là những lỗi gì? Chú thích câu 62 ở trang 29 đã đánh máy thừa một chữ. Lẽ ra là: "ca nhi, vũ nữ" (con hát, con gái múa), thì in sai thành: "ca nhi, vũ nữ" (con trai hát, con gái múa). Và một số sai sót do kỹ thuật in ấn, như: câu 1686 lẽ ra là: Tìm đâu thì cũng biết tin rõ ràng, in sai thành: Tìm dâu. Câu 1760 in thiếu 2 chữ "bàn hoàn", lẽ ra là: Nỗi lòng no những bàn hoàn niềm tây, hoặc còn vênh giữa câu thơ trên văn bản với chú thích ở các câu 2568 (trang 357), câu 866 (trang 139), câu 1951 vênh giữa văn bản với lời nói đầu (trang 10). Riêng cái sai thừa chữ trong câu giải thích"ca nhi, vũ nữ", tôi chợt bật cười nghĩ đến giai thoại trong dân gian: "Một người đố Kiều: nàng Kiều mang thai vào lúc nào? Thì có người trả lời: Thất kinh nàng chửa biết là làm sao! " Tôi nghĩ sai sót nhỏ đó chỉ nên biến thành một thứ giai thoại góp thêm vào kho tàng giai thoại quanh Truyện Kiều, chứ không nên biến thành một cớ để chế riễu sâu cay hòng vùi dập toàn bộ công sức tâm trí của những nhà Kiều học đáng kính trong Ban Văn bản- những người làm cả một công trình không để mong được trả thù lao ( Và quả thực, cho đến bây giờ, các vị đó vẫn chưa nhận được một đồng thù lao nào!) Còn những sai sót nhỏ của cuốn sách, cùng những sự "ném đá" vô tình hay cố ý vào nó cũng chỉ nên coi là tai nạn khó tránh khỏi trên con đường gian khổ tìm chân lý cuối cùng! Giờ đây, tôi nghĩ thực đơn giản, chỉ cần in một bản đính chính nhỏ kèm vào những bản chưa phát hành, sau đó, khi tái bản sẽ tiếp tục hoàn thiện. Theo PGS-TS Nguyễn Hữu Sơn, người trong Ban Văn bản, việc đầu tiên cần làm lúc này là khảo dị lại các bản chữ Nôm Truyện Kiều, để đi tới một sự đồng thuận cao hơn (ít nhất là trong Ban Văn bản). "Vừa qua, ngày 11.8, NXB Trẻ cùng với các hội đồng thành viên Ban văn bản Hội Kiều đã ngồi họp và nhất trí sẽ chỉnh lý, sửa sai. Vào tháng 11 tới đây, tại Hà Tĩnh sẽ diễn ra cuộc hội thảo về Nguyễn Du – Truyện Kiều, có thể chúng tôi tính đến phương án, tái bản cuốn sách đã được chỉnh sửa." Tôi trộm nghĩ: nếu thế, người đọc sẽ có một bản Truyện Kiều quốc ngữ tốt nhất so với các bản đã in trước đây, trên con đường khổ ải để "phục nguyên" Truyện Kiều của chính đại thi hào Nguyễn Du!

Mai An Nguyễn Anh Tuấn (Đạo diễn điện ảnh, nhà báo)