Đỗ Trọng Khơi
1. Văn học nghệ thuật Việt Nam cách tân và chuyển đổi
Lấy mốc khởi từ trào lưu văn học lãng mạn với Tự lực văn đoàn và Thơ mới 1930-1945, sang thời kỳ văn nghệ kháng chiến 9 năm 1946-1954, rồi 20 năm chiến tranh Thống nhất đất nước 1955-1975, Đổi mới 1975-1986, cho thấy nền văn học nghệ thuật Việt Nam đã trải qua các thời kỳ tiền chiến, kháng chiến, hậu chiến, trong đó hai thời kỳ kháng chiến và hậu chiến – tái thiết đất nước, văn học nghệ thuật sáng tác theo trào lưu hiện thực xã hội chủ nghĩa. Từ 1990 trở lại đây, thêm một lần văn học nghệ thuật tiệm cận tới một trào lưu sáng tác mới, nghệ thuật hiện đại - hậu hiện đại. Vậy là trải 4 giai đoạn cách tân và chuyển đổi nghệ thuật, có thể tạm định danh: Khởi từ lãng mạn, đề cao tính tự tôn, biệt lập “Ta là Một, là Riêng, là Thứ nhất” (Xuân Diệu); “Con nai vàng ngơ ngác / Đạp lên lá vàng khô” (Lưu Trọng Lư), đến thiêng hóa - tôn vinh cái Một lớn lao Dân tộc tính “Gương mặt người ai cũng sáng long lanh” (Tố Hữu); “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (Nguyễn Đình Thi); “Đường ra trận mùa này đẹp lắm” (Phạm Tiến Duật). Và tới giai đoạn giải thiêng: “Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng” (Hoàng Cầm), “Sức ì luôn trói buộc / Cái cũ đã thành thần” (Chế Lan Viên)…
Xem tiếp